Hạ
Thủ đô Đô thành bất định
Quân chủ
 -Quân chủ khai quốc
 -Quân chủ vong quốc
17 vị[chú thích 1]
Vũ, Khải[chú thích 1]
Tướng (lần 1) Kiệt (lần 2)
Thành lập khoảng thế kỷ 21 TCN
Diệt vong khoảng thế kỷ 16 TCN
trận Minh Điều
  Khu vực hoạt động của Hạ tộc

Nhà Hạ hay triều Hạ (tiếng Trung: 夏朝; bính âm: Xià Cháo; Hán-Việt: Hạ triều, khoảng thế kỷ 21 TCN-khoảng thế kỷ 16 TCN[chú thích 4]) là triều đại Trung Nguyên đầu tiên theo chế độ thế tập được ghi chép trong sách sử truyền thống Trung Quốc. Một số người cho rằng triều Hạ là liên minh nhiều bộ lạc hoặc quốc gia có hình thức tù bang phức tạp. Căn cứ theo ghi chép trong sách sử thì Tam Đại gồm Hạ, Thương, Chu đều là vương triều phong kiến, quân chủ và chư hầu chia nhau mà cai trị[tham 4], và triều Hạ là vương triều phong kiến thị tộc thế tập đầu tiên.[tham 5] Trong các văn vật thời kỳ Hạ, có số lượng nhất định lễ khí làm bằng đồng thanh hoặc ngọc[tham 6][tham 7], niên đại của chúng ước tính là vào cuối Thời đại đồ đá mới, đầu Thời đại đồ đồng[tham 8]. Mặc dù ghi chép liên quan đến triều Hạ trong các văn hiến truyền thống Trung Quốc là khá nhiều, song các sách này được hoàn thành khá muộn sau đó, cho đến nay vẫn chưa phát hiện được chứng cứ trực tiếp để có thể công nhận sự tồn tại của triều Hạ, như văn tự đồng thời kỳ, do đó trong giới lịch sử học cận hiện đại có người nghi ngờ tính chân thực về sự tồn tại của triều Hạ. Văn hóa Nhị Lý Đầu phát hiện được ở tây bộ Hà Nam và nam bộ Sơn Tây có các điều kiện cơ bản về niên đại và vị trí địa lý của văn hóa Hạ, song do chưa khai quật được các ghi chép văn tự giống như giáp cốt bốc từ ở Ân Khư, do vậy tính tồn tại của triều Hạ vẫn không thể chứng thực được.[tham 9] Nhiều học giả trong và ngoài Trung Quốc nhận định rằng di chỉ Nhị Lý Đầu ở Yển Sư thuộc Hà Nam có khả năng là di tích đô thành của triều Hạ ít nhất là trong thời kỳ thứ nhất và thứ nhì, song hiện vẫn đang phải tìm kiếm căn cứ xác thực để làm rõ.[tham 5][tham 10]

Căn cứ theo ghi chép trong sử sách, Vũ truyền vị cho con là Khải, cải biến thiện nhượng chế bộ lạc nguyên thủy, khởi đầu tiền lệ thế tập vương vị kéo dài 4000 năm trong lịch sử Trung Quốc.[tham 11] Triều Hạ tổng cộng truyền được 14 đời với 17 vua,[chú thích 1] kế tục trong khoảng 471 năm[chú thích 2], bị triều Thương tiêu diệt. Triều Hạ được xem là vương triều đầu tiên theo lịch sử truyền thống Trung Quốc, có địa vị lịch sử khá cao, người Hán đời sau thường tự xưng là "Hoa Hạ", trở thành danh từ đại diện cho Trung Quốc.[chú thích 6]

Quốc hiệu

Trong lịch sử, triều Hạ được gọi quen là "Hạ" (夏)[tham 18] Liên quan đến nguồn gốc tên gọi "Hạ", trong giới học giả chủ yếu có 10 loại thuyết[chú thích 7], trong đó quan điểm có độ khả tín cao nhất nhận định rằng "Hạ" là chữ tượng hình tượng trưng cho vật tổ của tộc Hạ.[chú thích 8][tham 33] Tư Mã Thiên chép chữ "Hạ" (夏) là danh hiệu bộ lạc do 12 thị tộc tổ thành: Tự tính Hạ hậu thị, Hữu Hỗ thị, Hữu Nam thị,[chú thích 9] Châm Tầm thị, Đồng Thành thị, Bao thị, Phí thị,[chú thích 10] Kỉ thị, Tăng thị, Tân thị, Minh thị, Châm Quán thị[chú thích 11] Vua Hạ là thủ lĩnh của bộ lạc, do vậy sau khi kiến lập triều Hạ, lấy tên bộ lạc làm quốc hiệu.[tham 34] Trương Thủ Tiết thời Đường thì nhận định "Hạ" là do Đại Vũ thụ phong tại Dương Trạch làm "Hạ Bá", sau lấy làm tên. Lại có thuyết nói "Hạ" bắt nguồn từ địa danh "Hữu Hạ chi cư", "Đại Hạ" diễn biến thành tên bộ lạc, rồi trở thành quốc hiệu.[tham 18]

Lịch sử

Khởi nguyên

Theo ghi chép trong văn hiến Trung Quốc cổ đại, trước khi Hạ hậu thị kiến lập, xuất hiện chiến tranh thường xuyên giữa bộ tộc Hạ và các bộ tộc khác xung quanh để tranh đoạt địa vị thủ lĩnh liên minh. Trong truyền thuyết cổ sử Trung Quốc, bộ tộc Hạ dần dần hưng khởi từ thời Chuyên Húc về sau. Có không ít văn hiến cổ đại truy nguyên Hạ tộc đến Chuyên Húc.[chú thích 12] Trong "Sử ký-Hạ bản kỉ" và "Đại đái lễ ký-Đế hệ", nói rằng Cổn là con của Chuyên Húc. Tuy nhiên, cũng có một số văn hiến thì nói rằng Cổn là cháu năm đời của Chuyên Húc.[chú thích 13] Các văn hiến này cho thấy rằng Hạ tộc rất có khả năng là một chi hậu duệ của Chuyên Húc. Có thuyết cho rằng Hạ tộc khởi nguyên tại khu vực dãy núi Mân Sơn trên thượng du Mân giang thuộc nơi giao giới giữa ba tỉnh Tứ Xuyên-Cam Túc-Thanh Hải hiện nay. Sau đó, họ dần theo thượng du Hán Thủy cổ, qua trung hạ du Vị Thủy, dời về phía đông đến lưu vực Y-Lạc tại nam bộ Sơn Tây-tây bộ Hà Nam.[tham 33]

Cổn-Vũ trị thủy

Thành viên Hạ tộc đầu tiên được văn hiến ghi chép là Cổn. Trong "Quốc ngữ-Chu ngữ" có ghi rằng Cổn là thủ lĩnh của Hạ tộc, được phong tại Tung[chú thích 14], cho nên được gọi là "Tung bá Cổn". Sau này, Vũ kế thừa Cổn làm "Tung bá Vũ". Điều này thể hiện rằng Hạ tộc hoạt động ở phụ cận Tung Sơn[chú thích 15].[tham 41] Đương thời, nước sông gây lụt, có không ít các bộ lạc hình thành liên minh bộ lạc nhằm chống lại nước lụt, Cổn được Tứ Nhạc cử làm lãnh đạo trị thủy, trải qua chín năm song cuối cùng thất bại. Nguyên nhân trị thủy thất bại có khả năng là do ông không giỏi trong việc đoàn kết tộc nhận cùng các bộ lạc khác. "Thượng thư-Ngiêu Điển" chép rằng Nghiêu ngay từ đầu tiên đã nhận định rằng Cổn trái mệnh hại tộc, hủy hại người thiện lương nên phản đối Cổn lãnh đạo trị thủy[tham 17], điều này thể hiện rằng trong thời gian Cổn lãnh đạo trị thủy có không ít bộ lạc bất mãn đối với ông. Trong "Thượng thư-Hồng phạm" và "Quốc ngữ-Lỗ ngữ" lại đề cập thêm rằng "Cổn chướng hồng thủy", cho thấy phương pháp trị thủy của Cổn chủ yếu là dùng đất, gỗ ngăn trở để chặn nước lụt, có thể đây cũng là một nguyên nhân của việc Cổn trị thủy chín năm thất bại.[tham 42] Sau khi trị thủy thất bại, Cổn bị giết tại Vũ Sơn nằm ven biển Hoàng Hải.[chú thích 16]

Tranh mô tả Đại Vũ trị thủy, tay cầm cày
(bản khắc đá thời Đông Hán Vũ Lương từ tại huyện Gia Ninh, Sơn Đông

Vũ là con của Cổn, sau khi Cổn mất, Vũ thụ mệnh của Thuấn làm công tác trị thủy. Vũ cải tiến phương pháp trị thủy của cha, nạo vét dòng sông, đoàn kết tộc nhân các bộ lạc, cuối cùng chế ngự được nước lụt. "Sử ký-Hạ bản kỉ" có chép rằng khi Vũ trị thủy "lao thân tiêu tư, 13 năm sống ở ngoài, qua cửa nhà không dám vào", tinh thần khắc khổ này được hậu thế truyền tụng, trong quá trình trị thủy có khả năng cũng đã xúc tiến đoàn kết giữa tộc nhân các bộ lạc. "Mạnh tử-Đằng Văn công" đề cập đến phương pháp trị thủy của Vũ: "khai thông chín sông, đào thông Tể, Tháp ra Chư Hải, khơi Nhữ, Hán; tháo nước Hoài, Tứ vào Giang[tham 43]" Vũ cũng đề xướng nông nghiệp, nhấn mạnh "tự thân trồng trọt mà có thiên hạ[tham 44]". Hàn Phi Tử-Ngũ đố" khen ngợi Vũ "thân cầm cày xẻng mà lãnh đạo dân, đùi và cẳng chân không mọc được lông, nhọc nhằn của nô lệ cũng không bằng của ông"[tham 45].

Do Vũ có công trị thủy và xúc tiến sản xuất nông nghiệp, thế lực của bộ tộc Hạ tăng cường. Sau đó, Thuấn cũng phái Vũ đi thảo phạt Tam Miêu. Vũ nhiều lần đánh bại Tam Miêu, xua đuổi Tam Miêu đến lưu vực Đan Giang và Hán Thủy, củng cố quyền vua. Trong "Mặc Tử-Phi công" có viết về việc sau khi Vũ thắng Tam Miêu "biệt vật thượng hạ, khanh chế đại cực, nhi thần dân bất vi, thiên hạ nãi tĩnh", qua đó có thể thấy rằng sau khi Vũ trị thủy và thắng lợi trước Tam Miêu, bộ tộc Hạ trở thành thủ lĩnh liên minh bộ tộc. Thuấn đem đế vị thiện nhượng cho Vũ, Vũ tại Đồ Sơn[chú thích 17] triệu tập hội minh bộ lạc, một lần nữa chinh thảo Tam Miêu.[chú thích 18] Trong Tả truyện có chép "người vạn quốc đem theo ngọc lụa" tham gia Đồ Sơn hội minh.[tham 53], có thể thấy khả năng hiệu triệu của bộ lạc Hạ[tham 5]. Có một lần tại Cối Kê[chú thích 19][chú thích 20] tổ chức hội minh bộ lạc, thủ lĩnh Phòng Phong thị đến muộn nên bị Vũ xử tử. Trong văn hiến cổ còn viết về việc Vũ căn cứ vào đường đi xa gần của các bộ lạc chư hầu mà phân biệt nạp cống nhiều hay ít, có thể thấy bộ tộc Hạ khống chế về mặt kinh tế của các bộ lạc xung quanh. Vũ từng tiến cử thủ lĩnh họ Yển là Cao Dao có thanh thế ở phía đông làm người kế thừa, thể hiện tôn trọng truyền thống thiện nhượng.[tham 41] Tuy nhiên, chưa đến khi thiện nhượng thì Cao Dao lại mất trước Vũ. Vũ lại mệnh thủ lĩnh Đông Di là Ích[chú thích 21] làm người kế thừa, tuy nhiên có rất nhiều bộ lạc không ủng hộ việc này, ngược lại họ ủng hộ con của Vũ là Khải. [chú thích 22]

Gia thiên hạ

Hạ vương Khải

Sau khi Vũ mất, Ích không có được quyền vị, ngược lại Khải được dân chúng ủng hộ nên đoạt được quyền vị. Ghi chép về giai đoạn lịch sử này không giống nhau. Theo Trúc thư kỉ niên cổ bản, sau khi Ích tức vị, Khải giết Ích mà đoạt lấy quân vị.[chú thích 23] Lại có thuyết nói sau khi Ích kế vị, có một số bộ tộc không thần phục Ích mà lại ủng hộ Khải, họ triển khai chiến tranh với bộ tộc của Ích, cuối cùng Khải thắng và đoạt được quyền vị. Sau đó, Ích suất lĩnh liên minh Đông Di thảo phạt Khải. Trải qua mấy năm đấu tranh, Khải xác lập địa vị thủ lĩnh trong liên minh bộ tộc.[chú thích 24] Văn hiến Tiên Tần ghi chép về sự việc này cùng cho là "công thiên hạ" biến thành "gia thiên hạ", tức thiên hạ là của chung biến thành thiên hạ của một nhà, khu vực Trung Nguyên từ đây xuất hiện khái niệm "quốc gia"[chú thích 25].[tham 39] Không ít học gia lịch sử nhận định đây là khởi thủy của triều Hạ-vương triều thế tập đầu tiên của Trung Quốc.[tham 5] Sau đó, không ít bộ tộc theo khuynh hướng thiện nhượng truyền thống nghi vấn về quyền vị của Khải. Hữu Hỗ thị vốn ở vùng ngoài kinh đô của Khải,[chú thích 28] trượng nghĩa khởi binh,[chú thích 29] suất lĩnh liên minh bộ tộc hướng đến thảo phạt kinh đô của Khải, cùng quân của Khải đại chiến tại Cam[chú thích 28] Trước khi chiến, Khải tuyên bố quyền vị của ông là "cung hành thiên", tức là theo ý trời. Điều này trở thành nguyên mẫu của thiên tử luận của triều Chu sau này. Khải nhận được sự tán đồng của dân chúng Trung Nguyên, do vậy chiếm tuyệt đại ưu thế về phương diện số người, cuối cùng đánh bại Hữu Hỗ thị, trừng phạt bằng cách giáng họ làm mục nô.[chú thích 30][chú thích 31] Đây là thắng lợi thứ hai đại diện cho việc quan niệm xã hội chủ lưu của khu vực Trung Nguyên đi từ chế độ thiện nhượng nguyên thủy chuyển hướng sang chế độ thế tập.[tham 39]

Thị tộc Hạ có nguyên mang họ (tính) Tự, song từ thời Khải trở đi chuyển sang dùng quốc danh "Hạ" làm họ. Đồng thời, Khải không tiếp tục sử dụng xưng hiệu "bá" mà đổi sang dùng "hậu", tức "Hạ hậu Khải".[chú thích 36][tham 65] Khải có tài ca hát, giỏi múa, thường cử hành thịnh yến. Trong đó, một lần lớn nhất là tại Quân Đài[chú thích 37][chú thích 38] ấy là Quân Đài chi hưởng, còn tại "Thiên Mục chi dã"[chú thích 39] biểu diễn ca vũ. "Sơn Hải kinh-Hải ngoại tây kinh" chép rằng Khải khi múa "tay trái giữ ế[chú thích 40], tay phải cầm vòng, đeo ngọc hoàng[chú thích 41]".[tham 66] Văn hiến nhạc vũ cổ xưa của Trung Quốc như "Cửu biện", "Cửu ca" và "Cửu thiều"[chú thích 42] đều nhận Khải là tác giả gốc. Trong thời gian Khải thống trị, con là Vũ Quan[chú thích 44] thường làm loạn. "Hàn Phi Tử-Thuyết nghi" chép rằng người này "hại nước hại dân bại pháp", cuối cùng bị giết.[tham 69]

Thái Khang thất quốc

Sau khi Hạ Khải mất, con là Thái Khang kế thừa hậu vị, Thái Khang chỉ để tâm vào du ngoạn, không lo chính sự.[tham 70] Trong thời gian Thái Khang tại vị, quyền uy của bộ tộc Hạ suy yếu, các bộ lạc Đông Di là Thái Hạo và Thiếu Hạo thừa cơ tây tiến. Thủ lĩnh Nghệ[chú thích 45][chú thích 46] của tộc Đông Di là người giỏi bắn cung, ông suất quân từ đất Từ[chú thích 53]

Sau khi Trung Khang mất, con là Tướng kế vị. Sau đó, Tướng chạy trốn hướng về hai thị tộc Châm Tầm[chú thích 50], Châm Quán[chú thích 54] Từ đó, Nghệ một mình đảm đương vương vị. Nghệ giỏi săn bắn, không thạo trị lý, sau khi đoạt quyền thì cũng giống như Thái Khang khi trước, ham săn bắn mà bỏ bê quốc sự. Ông loại bỏ các trung thần như Vũ La, Bá Khốn, Long Ngữ, trọng dụng Hàn Trác[chú thích 55]. Hàn Trác vào thời niên thiếu do bịa đặt dối gạt mọi người nên bị quân chủ của Bá Minh thị đuổi đi, sau được thủ lĩnh Hữu Cùng thị là Hậu Nghệ thu dưỡng, trở thành một người của Hữu Cùng thị, được trọng dụng[chú thích 56] Thế lực của Hàn Trác ngày càng lớn mạnh, về sau thừa cơ hội Nghệ ra ngoài săn bắn, Hàn Trác giết Nghệ và gia nhân, đoạt quyền lực và thê của Nghệ, sinh hai con trai là Ế[chú thích 57] và Kiêu[chú thích 58] Hàn Trác đem đất Qua[chú thích 59] phong cấp cho Ế, đem đất Quá[chú thích 60] phong cấp cho Kiêu. Kiêu nhận mệnh của cha, suất binh trước sau diệt Châm Quán thị và Châm Tầm thị vốn thân Hạ, giết Tướng đang ẩn náu tại Châm Tầm. Thê tử[chú thích 61] của Tướng là Hôn[chú thích 62][chú thích 63] đương thời có mang con của Tướng, bà theo lỗ tường đào tẩu đến quê nhà mẹ là Hữu Nhưng thị[chú thích 64][chú thích 65] tị nạn. Không lâu sau, bà sinh hạ di phúc tử Thiếu Khang[chú thích 66]

Thiếu Khang trung hưng

Sau khi trưởng thành, Thiếu Khang giữ chức mục chính[chú thích 67] của Hữu Nhưng thị. Sau khi biết chuyện, Kiêu phái người truy sát, Thiếu Khang không đối phó nổi nên chạy đến Hữu Ngu thị (hậu duệ của Thuấn), được giữ chức bào chính.[chú thích 68] Thủ lĩnh Hữu Ngu thị là Ngu Tư[chú thích 69] không có con trai mà chỉ có hai con gái,[chú thích 70] Ngu Tư đem hai người con gái hứa phối cho Thiếu Khang, ban ruộng một thành, người một lữ[chú thích 71][chú thích 72] đồng thời đem Luân Ấp[chú thích 73][chú thích 74] giao cho Thiếu Khang quản lý. Thiếu Khang lấy Luân Ấp làm căn cứ địa, tổ chức dân chúng Hạ tộc còn lại, thiết quan phân chức. Thiếu Khang phái Nữ Ngải đến triều đình của Kiêu mật thám, chuẩn bị khôi phục Hạ thất.[tham 72] Đương thời, di thần của Hạ thất là Mĩ[chú thích 75] ẩn náu tại Hữu Cách thị[chú thích 76] biết được việc Thiếu Khang chuẩn bị đoạt lại chính quyền, đích thân dẫn tàn dư dân chúng Châm Quán thị, Châm Tầm thị cùng Thiếu Khang hội sư, liên hiệp đánh bại Hàn Trác, phục lập Thiếu Khang là Hạ hậu. Sau khi Thiếu Khang diệt Kiêu ở đất Quá, lại phái con là Trữ[chú thích 77] đi diệt Ế ở đất Qua. Đến lúc này, Hữu Cùng thị bị hủy diệt sau gần 100 năm khống chế Trung Nguyên, kết thúc thời kỳ "vô vương" 40 năm.[tham 2] Hạ do đó phục quốc, hậu thế gọi là "Thiếu Khang trung hưng". Thông qua giai đoạn từ Thái Khang thất quốc đến Thiếu Khang trung hưng, có thể thấy được lịch trình Hoa Hạ tộc bình định bộ lạc phương quốc Trung Nguyên (nhất là Đông Di tộc).[tham 5]

Sau khi con của Thiếu Khang là Trữ kế thừa hậu vị, ông hiểu rõ sự bất mãn của Đông Di đối với Hạ thất, nhằm củng cố thế lực tại phía đông, ông dời đô thành từ Nguyên[chú thích 78] về phía đông đến Lão Khâu[chú thích 79] Trữ xem trọng phát triển vũ khí và chế tạo binh giáp. Trong văn hiến thường xuất hiện "Trữ tác giáp", "Trữ tác mâu". Ông còn phái người thảo phạt Đông Di ở khu vực duyên hải Đông Nam (nay là khu vực nam bộ Sơn Đông, đông bộ An Huy, Giang Tô). Theo truyền thuyết, ông bắt được vật cát tường là cửu vĩ hồ. Bản đồ triều Hạ trong thời gian thống trị của Trữ khoách trương đến bờ Đôn Hải (nay là Hoàng Hải). Thời kỳ Trữ tại vị cũng là lúc triều Hạ hưng thịnh nhất. Người Hạ đắc biệt tôn trọng đối với Trữ, vì Trữ mà cử hành "báo tế".[tham 41]

Thời con của Trữ là Hòe tại vị, hai tộc Đông Di và Hoa Hạ bắt đầu cùng tồn tại hòa bình. Trong đó chín bộ lạc cư trú tại lưu vực Hoài Hà-Tứ Thủy là Quyến Di, Vu Di, Phương Di, Hoàng Di, Bạch Di, Xích Di, Huyền Di, Phong Di, Dương Di (tức Cửu Di) thông thường hướng Hạ hậu nạp cống chúc hạ. Sau khi Hòe mất, con là Mang kế vị, con của Mang là Tiết kế vị sau khi Mang mất, trong thời gian này hai tộc Đông Di và Hoa Hạ dần đồng hóa. Trong thời gian Tiết tại vị, Đông Di tộc về cơ bản đã đồng hóa, do vậy ông bắt đầu phát triển về phía tây. Đồng thời, ông bắt đầu phong đất phong hiệu cho các phương quốc bộ lạc thuận theo Hạ thất, việc này bắt đầu chư hầu chế kéo dài trong nhiều thế kỷ sau. Sau khi Tiết mất, con là Bất Giáng[chú thích 80] kế vị, từng nhiều lần suất binh chinh thảo Cửu Uyển ở phía tây.[chú thích 81]

Thương Thang diệt Kiệt

Tranh mô tả Kiệt cầm kích, ngồi lên hai nữ bộc.
(vẽ vào thời Hán, Vũ lương từ, Gia Tường, Sơn Đông)

Khi Bất Giáng già yếu, nội thiện cho đệ là Quynh[chú thích 82]. Sau khi Quynh mất, con là Cần[chú thích 83] kế vị. Sau khi kế vị không lâu, Cần bệnh mất, đường huynh là Khổng Giáp- con của Bất Giáng- kế vị. Khổng Giáp tiến hành cải biến truyền thống tế tự tổ tông trong Hạ lễ, bắt đầu tế tự Thiên Đế. "Sử ký-Hạ bản kỉ" thuật rằng Khổng Giáp "ham thích thuật quỷ thần, làm việc dâm loạn".[chú thích 84] Không ít phương quốc bộ lạc bắt đầu bất mãn đối với Hạ thất, song quan hệ giữa Hoa Hạ tộc và Đông Di tộc vẫn hữu hảo, có khả năng là do độ đồng hóa giữa hai tộc đã khá cao. Từ thời Khổng Giáp, Hạ hậu thị bắt đầu ngày càng suy lạc.[chú thích 85] Khi Khổng Giáp mất, con là Cao[chú thích 86] kế vị. Khi Cao mất, con là Phát[chú thích 87] kế vị. Trong giai đoạn này, quan hệ giữa phương quốc bộ lạc và Hạ thất xấu đi, tranh chấp trong nội bộ thị tộc mãnh liệt hơn. Từ thời Khổng Giáp qua Cao và Phát, đến Lý Quý (biệt danh Hạ Kiệt), nội loạn không ngừng.

Sau khi Phát mất, con là Lý Quý (Kiệt) kế vị. Kiệt là người giỏi võ, "Sử ký-Luật thư" chép rằng Kiệt "tay đánh sài lang, chân truy tứ mã[tham 75]" Trong thời gian Kiệt tại vị, quan hệ giữa Hạ thất và phương quốc bộ lạc đã bị phá vỡ, số bộ lạc cống nạp cho Hạ không ngừng giảm thiểu, Kiệt do vậy thường thảo phạt bộ lạc không quy phục. Trong văn hiến có ghi rằng Kiệt tham sắc, sau khi đánh bại mỗi bộ lạc thì tuyển chọn phi tử trong số các nữ giới. Hữu Thi thi[chú thích 88] đề cập trong "Quốc ngữ-Tấn ngữ"[chú thích 89]; Mân Sơn thị, Mạt Hỉ thị đề cập trong "Trúc thư kỷ niên" đều có kết cục như vậy. Trong đó, Muội Hỉ của Mạt Hỉ thị kết giao với Y Doãn[chú thích 90] Kiệt nhiều lần chinh phục chọc giận không ít bộ tộc khá có quyền uy. Hữu Mân thị[chú thích 91][chú thích 92] do không phục tùng Kiệt mà bị diệt. Bộ tộc Thương mang tính Tử, hoạt động tại khu vực nay là tây nam bộ tỉnh Sơn Đông, bắt đầu trở nên hưng vượng chính là trong thời loạn này của triều Hạ. Kiệt cũng nhân việc Thương không phục làm lý do để thảo phạt, đánh bại thủ lĩnh của Thương là Thang. Thang bị cầm tù tại Hạ Đài[chú thích 93][chú thích 38], sau đó được phóng thích. Ngoài việc đề cập đến quan hệ đối ngoại xấu đi, trong các văn hiến còn đề cập đến việc Kiệt dùng người không thích hợp trong triều đình.

Kiệt chỉ quan tâm đến hưởng lạc, không màng tới khổ cực của dân gian. Theo truyền thuyết, dân Hạ nguyền rủa cho Kiệt sớm ngày quy thiên, Kiệt biết được thì nói đùa rằng bản thân là Thái Dương trên trời, Thái Dương bất tử thì ông cũng tử bất, dân Hạ liền chỉ Thái Dương trách, hỏi Thái Dương khi nào thì phá diệt, tình nguyện cùng diệt vong.[chú thích 94][tham 78] Khoảng cuối thế kỷ 17 TCN và đầu thế kỷ 16 TCN, thủ lĩnh bộ tộc Thương là Thang lợi dụng tâm lý dân Hạ hận Kiệt, liên kết phương quốc bộ lạc thảo phạt Kiệt. Liên minh diệt trừ các bộ tộc thân Hạ là Vi[chú thích 95], Cố[chú thích 96], Côn Ngô[chú thích 97][chú thích 98], sau đó khai chiến với Kiệt. Thế lực của Khang lớn, Kiệt ngăn chặn không được, vừa chiến vừa trốn, cuối cùng chiến bại tại đất cũ của Hữu Tung thị. Kiệt trốn đến Minh Điều[chú thích 99] Thang đuổi kịp, triển khai đại chiến tại đây. Kiệt một lần nữa bị đánh bại, bị Thang đuổi đày tại Lịch Sơn[chú thích 100] cùng sống với Mạt Hỉ thị, cuối cùng đến núi ở Nam Sào[chú thích 101] thì mất ở đó. "Hoài Nam Tử-Tu Vũ huấn" thì viết có chút bất đồng, theo đó Thang "chỉnh binh ở Minh Điều, bao vây quân Hạ tại Nam Sào, trách mắng việc đã qua (của Kiệt), đầy đến Lịch Sơn".[tham 80] Trong truyền thuyết của hậu thế, Hạ hậu Kiệt bị miêu tả là một bạo quân, hậu nhân thường đem Hạ hậu Kiệt và Thương Trụ Vương, Chu Lệ Vương và Chu U Vương gọi chung là các bạo quân họa quốc ương dân, nhưng trong các văn hiến khá sớm thì Kiệt được ghi chép rất giản lược. "Thượng Thư-Thang thệ" có ghi rằng khi Thang phạt Kiệt có nêu ra tội trạng của Kiệt chỉ là "suất át chúng lực, suất cát Hạ ấp".[tham 77] Trong trận Minh Điều, Hạ thất bị lật đổ, Thang nhận được sự ủng hộ của phương quốc bộ lạc mà xưng vương tại Bạc[chú thích 102], kiến lập Thương vương triều, trở thành lần thay đổi triều đại đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc. Chính quyền thế tập đầu tiên tại Trung Quốc là Hạ triều truyền được 14 đời, 17 vua[chú thích 1], trải qua 471 năm[chú thích 3].

Hậu duệ

Sau khi Hạ diệt vong, thế lực còn lại chủ yếu lưu cư Trung Nguyên[chú thích 103] song cũng có hai chi phân biệt thiên di hướng bắc và hướng nam. Kiệt đem theo không ít dân chúng Hạ tộc từ Lịch Sơn nam thiên đến Nam Sào, chính là chi phía nam. Chi phía bắc tiến vào cao nguyên Mông Cổ, cùng các tộc bản địa dung hợp, có người nhận định đấy chính là dân tộc được hậu nhân gọi là Hung Nô. "Sử ký-Hung Nô liệt truyện" có chép rằng "tiên tổ của Hung Nô cũng là hậu duệ của Hạ hậu thị, gọi là Thuần Duy[chú thích 104][tham 83]". "Quát địa phả" cho biết chi tiết hơn " con (Hạ Kiệt) là Huân Dục[chú thích 105][chú thích 106] có thê là thê thiếp của Kiệt, tị cư ở Bắc Dã, di dời theo thú nuôi, Trung Quốc gọi là Hung Nô[tham 84]". Thương Thang phong một chi của Hạ thất mang họ Tự tại Kỷ quốc để phụng tự tông miếu tổ tiên[tham 85][tham 86]. "Sử ký-Trần Kỉ thế gia" ghi rằng hậu duệ Hạ tộc tại "Ân thời hoặc phong hoặc tuyệt"[tham 87] Sau khi Chu Vũ Vương diệt Thương và trở thành vương, ông phong hậu duệ của Đại Vũ là Đông Lâu công tại đất Kỷ, tiếp tục quốc tộ Kỉ quốc, chủ quản việc tế tự đối với Vũ. Mạt kỳ Xuân Thu, Khổng Tử do sùng thượng Hạ lễ nên còn đặc biệt đến Kỷ quốc phỏng vấn khảo sát[tham 88] Tại thôn Vũ Lăng ở Cối Kê Sơn thuộc Thiệu Hưng của Chiết Giang, đời sau họ Tự của Hạ Vũ đến nay vẫn giữ lăng của Vũ[chú thích 107][tham 90] Quách Mạt Nhược, Hồ Hậu Tuyên, Trình Cảnh nhận định Thổ phương trong Giáp cốt văn chính là Hạ sau khi chiến bại.[tham 91][tham 92][tham 93] Căn cứ ghi chép trên Bốc từ, Thổ phương là một phương quốc lớn mạnh ở tây bắc của Ân[chú thích 108], là đối tượng mà Vũ Đinh và các vua Thương trước đó trường kỳ chinh thảo. Sau khi Vũ Đinh chinh phục Thổ phương, tại "Đường thổ" trong nội địa của Thổ phương cho kiến thiết nên thành ấp lớn là "Đường", khống chế nhân dân Thổ phương, về sau không lại thấy có ghi chép Thổ phương bạn biến.[tham 92] Thời Chu sơ, Thành Vương phong quân chủ đầu tiên của Tấn quốc là Đường Thúc Ngu ở nơi đó.[tham 94]

Sau khi vua Thiếu Khang trung hưng vương thất, phong cho con thứ là Vô Dư làm vua nước Việt ở đất Cối Kê (nay thuộc huyện Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang) để lo việc phụng thờ. Do ở nơi man hoang nên giai đoạn sau nhà Hạ và nhà Thương cho đến Tây Chu nước này không có ảnh hưởng gì lớn để sử sách ghi chép, đến cuối thời Xuân Thu, Việt vương Câu Tiễn giành ngôi bá chủ Trung Nguyên nước Việt mới được chú ý đến. Đến giữa thời Chiến Quốc, nước Việt suy yếu bị nước Sở đánh bại. Con thứ hai của Việt vương Vô Cương là Minh Di được vua Sở cho cai quản vùng đất Ngô Thành (nay ở huyện Ngô Hưng tỉnh Chiết Giang), nằm ở phía nam Âu Dương Đình, được đặt tên như vậy bởi vì nó được xây dựng ở phía nam và là phía dương (mặt trời) của núi Âu Dương, vì thế ông được đặt danh hiệu là Âu Dương Đình Hầu. Năm 223 TCN, tướng nước Tần là Vương Tiễn tiến vào vùng đất Việt. Các thủ lĩnh người Việt ở đây (là hậu duệ của Câu Tiễn) đều quy phục. Vương Tiễn bèn lấy đất Việt lập quận Cối Kê. Con cháu họ tiếp tục giữ họ Âu, Âu Dương hay Âu Hầu để tưởng nhớ chức tước ngày xưa của tổ tiên.

Năm 334 TCN, một nhánh khác của nước Việt bị nước Sở đánh bại đã chạy đến vùng Phúc Kiến xây dựng nước Mân Việt. Quốc gia này bị nhà Tần khuất phục, tuy nhiên chẳng bao lâu "nhà Tần mất hươu khiến thiên hạ cùng đuổi", cháu 7 đời của Vô Cương là Vô Chư vì có công chống Tần nên được Hán Cao Tổ cho phép phục quốc và phong làm Mân Việt Vương. Mân Việt bị chiếm đóng một phần bởi nhà Hán vào cuối thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên. Tuy nhiên, do địa hình được bao bọc bởi núi non, nhà Hán lúc đó không thể hoàn toàn kiểm soát được vùng này. Mân Việt bị thôn tính bởi Nam Việt từ năm 183 TCN đến 135 TCN, nhưng họ phục quốc chưa bao lâu thì bị xâm chiếm bởi nhà Hán năm 110 trước Công Nguyên. Một phân nhóm dân tộc tên là Huệ An Nữ tự nhận họ là con cháu của những người Mân Việt xưa. Ngày nay, theo phân loại dân tộc của Trung Quốc, nhóm Huệ An Nữ được xếp làm một nhánh của dân tộc Hán.

Năm 472 TCN, sau khi tiêu diệt nước Ngô, Việt vương Câu Tiễn phong cho con trai thứ (chưa rõ tên) ở Đông Âu tộc (nay thuộc Ôn Châu và Thai Châu tỉnh Chiết Giang. Tuy nước Việt bị Sở sát nhập nhưng bộ phận Đông Âu tộc vẫn được quyền tự trị, thủ lĩnh bộ tộc tự xưng là Đông Âu vương. Năm 220 TCN, Tần Thủy Hoàng hạ lệnh phế truất thủ lĩnh đời thứ sáu Đông Âu tộc là An Chu, Đông Âu tộc bị sát nhập với Mân Việt thành quận Mân Trung, chấm dứt sau 252 năm tồn tại. Năm 209 TCN, con trai An Chu là Sô Giao nhân nhà Tần đại loạn cũng vùng lên phục quốc, năm 200 TCN được Hán Cao Tổ phong làm Hải Dương Tề Tín Hầu. Năm 191 TCN, Hán Huệ Đế cải phong Giao làm Đông Hải vương, tuy nhiên thế tục vẫn gọi ông này là Đông Âu vương. Năm 138 TCN, Đông Âu quốc chính thức bị nhà Hán sát nhập, quân chủ cuối cùng là Sô Vọng bị Hán Vũ Đế giáng phong làm Quảng Vũ hầu.

Phạm vi thế lực và phân chia hành chính

Triều Hạ tồn tại trong khoảng thời gian quá độ từ liên minh thành bang bộ lạc tới quốc gia phong kiến, do đó không có cương vực rõ ràng. Quan hệ giữa thị tộc Hạ và các thành bang bộ lạc khác khá giống với kiểu quan hệ giữa nước tông chủ và nước triều cống. Tuy nhiên, có một ít phương quốc được Hạ thất phân phong, giống như nước chư hầu. Do vậy, chỉ có thể lấy phạm vi thế lực để biểu thị lực ảnh hưởng của triều Hạ. 11 chi họ Tự của Hạ tộc và vương thất trung ương Hạ hậu thị về dòng máu có quan hệ tông pháp, về chính trị có quan hệ phân phong, về kinh tế có quan hệ cống phú, nói chung cấu thành phạm vi lãnh thổ lõi của vương triều Hạ.[tham 95] Hạ bắt đầu từ tây bộ Hà Nam và nam bộ Sơn Tây ở phía tây; phía đông đến nơi giao giới giữa ba tỉnh Hà Nam, Sơn Đông, Hà Bắc; phía nam đến bắc bộ tỉnh Hồ Bắc; phía bắc lên tới nam bộ tỉnh Hà Bắc. Khu vực này có trung tâm địa lý nay là dải Yển Sư, Đăng Phong, Tân Mật, Vũ Châu.[tham 41] Đương thời, thế lực của Hạ kéo dài ra nam bắc Hoàng Hà, thậm chí là đến lưu vực Trường Giang. Vào tảo kỳ triều Hạ, Hạ tộc chủ yếu sinh hoạt tại vùng đất Hà Nội ở trung nam bộ Sơn Tây, men theo Phần Thủy, Hà Thủy dời đến phía đông nam, vãn kỳ đến lưu vực Y-Hà ở trung bộ Hà Nam. "Quốc ngữ-Chu ngữ thượng" viết rằng "xưa Y Lạc khô cạn nên Hạ mất[tham 96]", có thể thấy sông Y-Lạc mang tính trọng yếu đối với vùng thủ đô thời vãn kỳ của Hạ.[tham 39]

Chín châu trong truyền thuyết

Vũ cống cửu châu đồ (hướng phía trên là hướng tây)
(làm vào thời Nam Tống)

Về phân chia hành chính, triều Hạ chọn thi hành cửu châu chế. Căn cứ theo ghi chép trong "Thượng Thư-Vũ cống", sau khi Đại Vũ trị thủy thành công, đem Trung Thổ phân thành chín châu là Ký, Duyện, Thanh, Từ, Dự, Dương, Kinh, Lương, Ung[chú thích 110], và chiếm lấy đồ kim thuộc và thạch khoáng từ chín châu[chú thích 111], đúc ra cửu đỉnh để tượng trưng cho quyền lợi quốc gia, do vậy "Cửu Châu" trở thành danh từ đại diện cho quốc gia Trung Quốc, và ý "định đỉnh" là kiến lập chính quyền.[chú thích 113][tham 61] Theo "Vũ cống", chín châu phân chia như sau[tham 100]:

  1. Ký châu (冀州), giáp bên phải Kiệt Thạch đến Hà, ba mặt cách Hà, là nơi đường cống nạp của các châu đều đi qua. Nay thuộc các tỉnh Sơn Tây, Hà Bắc và tây bộ Liêu Ninh.
  2. Duyện châu (兗州), thuận theo Tể, Tháp, cho đến Hà. Nay là tây bộ Sơn Đông, góc đông nam của Hà Bắc.
  3. Thanh châu (青州), thuận theo Vấn, cho đến Tể. Nay là khu vực bán đảo Sơn Đông phía đông Thái Sơn.
  4. Từ châu (徐州), thuận theo Hoài, Tứ, cho đến Hà. Nay là khu vực phía bắc Hoài Hà của Giang Tô, An Huy và nam bộ Sơn Đông.
  5. Dương châu (揚州), men theo Giang, Hải, cho đến Hoài, Tứ. Nay là khu vực phía nam Hoài Hà của Giang Tô, An Huy và bắc bộ hai tỉnh Chiết Giang, Giang Tây.
  6. Kinh châu (荊州), thuận theo Giang, Đà, Tiềm, Hán, vượt qua Lạc, cho đến Nam Hà. Nay là Hồ Bắc, vùng phía bắc Hành Sơn của Hồ Nam và phần cực tây bắc của Giang Tây.
  7. Dự châu (豫州), thuận theo Lạc, cho đến Hà. Nay là Hà Nam, bắc bộ Hồ Bắc, đông nam bộ Thiểm Tây, góc tây nam của Sơn Đông.
  8. Lương châu (梁州), thuận theo Tiềm, vượt qua Miện, tới Vị, loạn với Hà. Nay là Tứ Xuyên, cực nam của Thiểm Tây và Cam Túc.
  9. Ung châu (雍州), thuận theo Tích Thạch, đến Long Môn Tây Hà, hội ở Vị, Nhuế. Nay là Thiểm Tây, Cam Túc, Ninh Hạ, Thanh Hải.

Cửu châu mượn danh từ công việc của Đại Vũ, kỳ thực là do người thời Chiến Quốc ước đoán phân chia Thiên hạ. Quốc gia thời Hạ nằm ở giai đoạn manh nha, bức xạ chính trị nhìn chung không vượt khỏi thành ấp nội địa, ở ngoài kinh kì thì thông qua phong bang kiến quốc theo thị tộc chế cùng với thông hôn kết minh mà đạt thành quan hệ. Do lãnh thổ nhỏ hẹp, chính quyền trung ương đơn nhất không cần thiết hay không có năng lực phân chia khu vực hành chính.[tham 97]

Đô thành

Thời kỳ viễn cổ, chưa có khái niệm rõ ràng về đô ấp, xã hội trong giai đoạn nửa chăn nuôi đi săn, nửa trồng trọt định cư, dân của bộ tộc Hạ theo thủ lĩnh và tráng đinh trong tộc thiên di. Sau khi tài nguyên đương địa đã tận, họ liền thiên di đến đất khác, không thường trú tại một nơi. Vùng đất Hạ hậu cư trú gọi là "Đại Ấp" hoặc "Hạ Ấp", đó là khái niệm nguyên thủy của thủ đô quốc gia.[tham 5] Văn hiến ghi chép thủ lĩnh Hạ tộc trước sau định cư tại 17 xứ: Đại Hạ, Hạ Khư [chú thích 114] Cao Mật[chú thích 115] Dương Thành, Dương Trạch, Tấn Dương, Bình Dương, Ký[chú thích 116], An Ấp, Hạ Ấp, Châm Tầm, Đế Khâu[chú thích 117], Luân[chú thích 73], Nguyên, Lão Khâu, Tây Hà, Hà Nam.[chú thích 118] Vị trí cụ thể của các đô ấp này đều dĩ nhiên không có cách nào khảo chứng, trong đó một số có khả năng là biệt danh của cùng một thành ấp.[tham 5][tham 39]

Biến đổi vùng đất cư trú của thủ lĩnh Hạ tộc
[tham 5][tham 33][tham 57][tham 104]
Thủ lĩnh Đất ở Địa danh hiện tại
Cổn Đại Hạ[chú thích 119] tương truyền nay thuộc huyện Hạ, Sơn Tây[tham 33]
Tung[chú thích 14] tương truyền nay thuộc huyện Tung, Hà Nam.[tham 57]
Cao Mật[chú thích 115] tương truyền nay nằm trong địa phận huyện Tân An, Hà Nam[tham 105]
Dương Thành[chú thích 120] tương truyền nay thuộc trấn Cáo Thành, Đăng Phong, Hà Nam[tham 104]
Dương Trạch[chú thích 120] tương truyền nay thuộc Vũ Châu, Hứa Xương, Hà Nam[tham 104]
Tấn Dương[chú thích 121] tương truyền nay thuộc trấn Tấn Nguyên, Thái Nguyên, Sơn Tây[tham 33]
Bình Dương[chú thích 121] tương truyền nay là tây nam Lâm Phần, Sơn Tây[tham 33]
An Ấp[chú thích 119] tương truyền nay là đông bắc huyện Hạ, Sơn Tây[tham 33]
Khải, Thái Khang Dương Trạch -
Thái Khang, Trung Khang Châm Tầm[chú thích 50] có thuyết nói rằng nay là di chỉ Nhị Lý Đầu cách 18 km về phía đông khu Lão Thành, Lạc Dương, Hà Nam
có thuyết nói rằng nay thuộc thôn Sảo Sài, trấn Chi Điền cách 29 km về phía tây nam Củng Nghĩa, Hà Nam[tham 5][tham 104]
Tướng Đế Khâu[chú thích 117] tương truyền nay là tây nam Bộc Dương, Hà Nam[tham 104]
Châm Tầm -
Nghệ [chú thích 53] có thuyết cho rằng nay thuộc huyện Hoạt, Hà Nam[tham 11]
Nghệ, Hàn Trác Cùng Thạch tương truyền nay thuộc nam bộ Lạc Dương, Hà Nam[tham 57]
Thiếu Khang Luân[chú thích 73] tương truyền nay thuộc tây bộ huyện Ngu Thành, Hà Nam[tham 33]
Hạ Ấp tương truyền nay thuộc huyện Hạ Ấp, Hà Nam[tham 33]
Đế Khâu -
Trữ Nguyên có thuyết cho rằng nay là Miếu Nhai Nguyên Thành cách 2 km về phía tây bắc Tế Nguyên, Hà Nam[tham 5][tham 104]
Trữ, Hòe, Mang, Tiết, Bất Giáng, Quýnh Lão Khâu tương truyền nay thuộc trấn Trần Lưu, huyện Khai Phong, Hà Nam[tham 104]
Cần, Khổng Giáp, Cao, Phát Tây Hà có thuyết cho rằng nay thuộc đông nam An Dương, Hà Nam[tham 104]
Kiệt Châm Tầm -
Hà Nam có thuyết cho rằng nay là di chỉ Nhị Lý Đầu[tham 5][tham 104]

Bộ lạc phương quốc

Nhà Hạ trên bản đồ China
Tung
Tung
Nhà Hạ
Châm Tầm
Châm Tầm
An Ấp
An Ấp
Bình Dương
Bình Dương
Tấn Dương
Tấn Dương
Nhà Hạ
Nguyên
Nguyên
Nhà Hạ
Dương Thành
Dương Thành
Nhà Hạ
Lão Khâu
Lão Khâu
Nhà Hạ
Đế Khâu
Đế Khâu
Tây Hà
Tây Hà
Côn Ngô
Côn Ngô
Vi
Vi
Anh
Anh
Lục
Lục
Thương1
Thương1
Thương2
Thương2
Thương3
Thương3
Hữu Dịch thị
Hữu Dịch thị
Hữu Cách thị
Hữu Cách thị
Nhà Hạ
Hữu Cùng thị
Hữu Cùng thị
Nhà Hạ
Hữu Nhưng thị
Hữu Nhưng thị
Nhà Hạ
Hữu Mân thị
Hữu Mân thị
Nhà Hạ
Hữu Ngu thị
Hữu Ngu thị
Nhà Hạ
Hữu Hỗ thị
Hữu Hỗ thị
Đồ Sơn thị
Đồ Sơn thị
Phòng Phong thị
Phòng Phong thị
Lai Di
Lai Di
Cửu Di
Cửu Di
Tam Miêu
Tam Miêu
Huân Dục
Huân Dục
Toàn đồ thời kỳ Hạ[chú thích 123][tham 104]
Đô ấp của Hạ hậu Đô ấp của Hạ hậu Đô ấp của phương quốc Đô ấp của phương quốc Đô ấp của Thương tộc Đô ấp của Thương tộc

Phương quốc là quốc gia quy mô nhỏ được chuyển hóa hình thành từ thị tộc bộ lạc nguyên thủy. Các bang quốc này nằm bên ngoài cương giới, không chịu sự quản lý trực tiếp của Hạ hậu. Một số phương quốc chỉ là bộ tộc lớn, song có một số phương quốc khá lớn, thiết lập nên tổ chức quốc gia, quy mô thậm chí còn lớn hơn Hạ hậu thị[tham 106] Hữu Cùng thị từng có một thời gian thay thế cầm quyền, Thiếu Khang từng chạy đến Hữu Nhưng thị, Hữu Ngu thị, giữ các chức mục chính và bào chính.

Hữu Nhưng thị còn có tên là Hữu Nhâm thị, mang họ Phong, cư trú bên bờ hồ Vi Sơn[chú thích 124] ở Sơn Đông, là hậu duệ của Thái Hạo, Thiếu Hạo. Giữa Hữu Nhưng thị và Hạ hậu thị có qua lại mật thiết, có hiện tượng thông hôn, trong đó thê của Tướng là Mân đến từ Hữu Nhưng thị. Khi Tướng bị Hàn Trác sát hại, Mân đang mang thai, bà lánh nạn tại cố hương, sinh hạ Thiếu Khang tại Hữu Nhưng. Sau khi Thiếu Khang phục hưng Hạ thất, phong tộc nhân của Hữu Nhưng ở Nhâm quốc.

Hữu Ngu thị là hậu duệ của Ngu Mạc, Đế Thuấn, họ hoạt động tại lưu vực Phần Thủy cổ tại tây bắc Hà Nam và nam Sơn Tây. Khi Thuấn già, nhận thấy con mình là Thương Quân không tài không đức, do vậy thiện vị cho Vũ. Lúc trước, Nghiêu truyền vị cho Thuấn, Thuấn sau lại nhượng vị cho con Nghiêu là Đan Chu, Vũ muốn làm theo họ mà nhượng vị cho Thương Quân. Tuy nhiên, do dân chúng ủng hộ Vũ mà không đếm xỉa đến Thương Quân, do vậy Vũ kế thừa đế vị, phân phong cho Thương Quân ở phụ cận Ngu Thành, Hà Nam ngày nay. Bốn đời sau, Hạ thất trung suy, Thiếu Khang chạy đến Hữu Ngu tị nạn, được thủ lĩnh Ngu Tư[chú thích 69] đại lực hiệp trợ nên mới xoay chuyển được thế cục cho Hạ thất, Hữu Ngu thị có quan hệ trực tiếp đến tồn vong của Hạ hậu thị.

Có thuyết nói họ Yển là hậu duệ của Cao Dao. Khi Vũ già có tiến cử Cao Dao làm người kế thừa, song Cao Dao lại mất trước Vũ, Vũ lại tiến cử Bá Ích. Sau khi Vũ mất, con Vũ là Khải thu phục được sự ủng hộ của dân chúng, Bá Ích mất quyền rồi chiến bại trước Khải và bị giết. Hậu duệ của Cao Dao được phong ở ba đất Lục[chú thích 125], Anh, Hứa ở đông nam.[tham 34]

Hữu Hỗ thị[chú thích 28] là bộ lạc cùng họ với Hạ. Khi Khải đoạt quyền của Ích, Hữu Hỗ thị không phục lấy danh nghĩa "Nghiêu Thuấn chọn người hiền tài còn Vũ thì độc chiếm" mà phản đối Khải thống trị, kết quả chiến bại trong trận chiến Cam, bộ chúng thì bị giáng làm mục nô.

Con của Dận là Bá Mĩ nguyên là thủ lĩnh bộ lạc[chú thích 126] thần phục Hạ hậu, khi Thái Khang mất nước thì quy phục Hậu Nghệ, khi Hàn Trác giết Nghệ thì chạy đến Hữu Cách thị.[chú thích 76] Mĩ biết việc Thiếu Khang chuẩn bị phục hưng Hạ thất thì tổ chức binh dân Hữu Cách và nhị Châm hội sư với Thiếu Khang.

Châm Quán thị[chú thích 127], Châm Tầm thị[chú thích 128] được gọi chung là "nhị Châm", cùng mang họ Tự.[chú thích 129] là thị tộc thân Hạ trọng yếu vào tảo kỳ thời Hạ. Trong quá trình Hạ hậu thị thiên di về phía đông nam, với hai thị tộc có sự dung hợp, đến vãn kỳ thời Hạ thì vùng đất của Châm Tầm trở thành đô ấp của Hạ hậu, di chỉ Nhị Lý Đầu tại Yển Sư có khả năng chính là Châm Tầm.[tham 108] Thời kỳ "vô vương", Hàn Trác mệnh con là Kiêu suất binh diệt nhị Châm, đồng thời giết Hạ hậu Tướng đang tị nạn tại Châm Tầm. Thế lực còn lại của nhị Châm một số năm sau gia nhập vào liên quân của Thiếu Khang và Bá Mĩ, phục hưng Hạ thất.[tham 71]

Hữu Hôn thị[chú thích 91][chú thích 130] cũng là một chi hậu duệ khác của Thiếu Hạo, là một phương quốc lớn mạnh vào vãn kỳ thời Hạ. Khi Hạ Kiệt triệu tập hội minh tại Hữu Nhưng, thủ lĩnh Hữu Hôn thị do bất mãn với sự thống trị của Kiệt nên định về nước, bị Kiệt diệt trừ.

Hữu Sân thị[chú thích 131][chú thích 132] là hậu duệ của Đế Khốc Cao Tân thị. Thời Khải, phong quốc cho Chi Tử. Giao thời Hạ-Thương, dưới sự bang trợ của Y Doãn, Hữu Sân thị và Thương Thang kết minh tại Bắc Bạc[chú thích 133], Thang còn cưới phi từ Hữu Sân thị.[tham 5]

"Sơn Hải kinh-Hải ngoại tứ kinh" chép rằng ngoại biên Hạ hậu thị có rất nhiều phương quốc mang tên có chữ "quốc", có khả năng chỉ là thần thoại song cũng có khả năng là danh xưng sai lệch của các bộ lạc viễn cổ.[tham 109]

Ngoại tộc

Tam Miêu

Trong Hán ngữ thời Thượng Cổ, "Miêu" và "Man" đồng âm đồng ý, Tam Miêu và "Nam Man" của hậu thế có thể có cùng nguồn gốc.[tham 39] "Chiến Quốc sách-Ngụy sách" chép rằng vị trí của Tam Miêu: phía đông Động Đình, phía tây Bành Lễ[chú thích 134][chú thích 135], bắc đến Văn Sơn, nam tiếp Hành Sơn.[chú thích 122] Thời kỳ Nghiêu Thuấn, nước lụt tràn ngập, Miêu thừa cơ "nổi loạn" tại Đông Nam, cùng với Hoan Đâu, Cộng Công, và Cổn gọi chung là Thiên hạ "tứ tội". Thuấn phái Vũ đi hàng phục dân Miêu song không đạt được kết quả. Thuấn trong những năm cuối từng tự thân nam chinh, trên đường bệnh mất tại Thương Ngô. Vũ kế tục sự nghiệp chinh Miêu, phát ra lời thệ sư "Vũ thệ", cùng quân Miêu triển khai đại chiến kéo dài trong 70 ngày, chế phục quân Miêu, bình định Tam Miêu.[tham 111] Từ đó, Tam Miêu suy lạc không dừng, biến mất khỏi vũ đài lịch sử.[tham 112]

Đông Di

Người Di sống ở phía đông của Trung Nguyên, cho nên gọi là Đông Di, nổi tiếng về tài cung tên. Tộc Đông Di ban đầu phân bố tại khu vực huyện Dịch, Bảo Định, Hà Bắc cho đến chân núi phía nam của Yên Sơn, vào thời kỳ Hạ-Thương, họ phân ra làm bốn phần, một chi lưu cư tại trung bộ Hà Bắc, chi phía bắc đi vòng qua vịnh Bột Hải để đến Liêu Đông và bán đảo Triều Tiên, chi phía nam qua Sơn Đông nam hạ đến khu vực Giang Hoài, còn chi phía tây trải khắp hai tỉnh Sơn Tây và Hà Nam ở tây bộ bình nguyên Hoa Bắc, xa nhất đến tận Thiểm Tây. Chi phía tây vào tảo kỳ thời Hạ xảy ra mâu thuẫn với Hạ hậu thị, trong giai đoạn từ Thái Khang đến Trữ trở thành mối uy hiếp không nhỏ đối với chính quyền Hạ hậu thị. Hữu Cùng thị là hậu duệ của Thiếu Hạo[chú thích 136] người Đông Di, nổi lên ở Cùng Tang[chú thích 137], sau đó bắc thiên đến Cách[chú thích 76] ven bờ Bột Hải, dần lớn mạnh tại đây. Thời kỳ Tam Hoàng, liên minh bộ lạc của Hữu Ngu thị hiệp đồng Thuấn Đế xua đuổi các bộ lạc nghịch minh Đại Phong, Thập Nhật, Cửu Anh, Tạc Xỉ, Phong Hy[chú thích 138], Tu Xà. Đầu thời Hạ, Hữu Cùng thị tây thiên đến Tư, sát gần khu vực trung tâm của Hạ hậu thị. Thời Thái Khang, Hạ thất trung suy, thủ lĩnh Nghệ của Hữu Cùng thị thừa cơ tây tiến. Nghệ dẫn người nam vượt Hoàng Hà, diệt bốn thuộc quốc của Hạ hậu, chiếm cứ vùng chân núi phía bắc của Tung Sơn. Sau đó, Hậu Nghệ đoạt được Hạ đô Châm Tầm, đày Thái Khang ra đông bộ Hà Nam, lập Trung Khang làm quân chủ. Trung Khang mất, con là Tướng được lập, Nghệ bèn thay thế nắm quyền. Tám năm sau, Nghệ bị nghĩa tử Hàn Trác sát hại, Hàn Trác nấu thịt Nghệ và cưỡng bách con Nghệ ăn, con Nghệ không chịu nên cũng bị Hàn Trác sát hại. Hàn Trác lấy thê của Nghệ, sinh ra Ế và Kiêu. Hàn Trác tàn bạo hôn dung, Hạ hậu Thiếu Khang liên hiệp với hàng thần Mĩ của Hữu Cách thị, Hữu Ngu, Hữu Nhưng, Châm Quán, Châm Tầm diệt Ế, Kiêu và Hàn Trác. Tộc nhân của Hữu Cùng thị từ đó rời khỏi khu vực Lạc Hà, dời về phía tây nam.[tham 113] Phân chi Đông Nam của tộc Đông Di có chín tộc, gọi chung là "Cửu Di". "Trúc thư kỉ niên" ghi rằng vào thời Tướng, "Vu Di đến quy thuận", nhưng thời Thiếu Khang phục quốc chỉ có Phương Di quy phụ, tám tộc còn lại tiếp tục chống lại Hạ tộc. Trong thời gian Trữ tại vị, quân Hạ nhiều lần chiến thắng trước tộc Di, giúp khoách trương thế lực của Hạ hậu đến bờ biển Hoa Đông. Đến thời Hòe, Cửu Di lần lượt quy phụ Hạ hậu, sau đó Di và Hạ hòa hảo.[tham 2]

Thương

Thương tộc mang họ Tử, nguyên là Đông Di, thủy tổ là Tiết[chú thích 139] do Giản Dịch thuộc Hữu Tung thị sinh. Tiết là nhân vật sống cùng thời kỳ với Vũ, sống tại hạ du Hoàng Hà, từng hiệp trợ Đại Vũ trị thủy.[chú thích 140] Trải qua năm vị tiên công là Chiêu Minh, Tướng Thổ, Xương Nhược, Tào Ngữ, Minh, Thương tộc phát triển từ đông bộ Hà Bắc đến bắc bộ Hà Nam. Minh nhậm chức thủy quan của Hạ hậu, mất trong quá trình trị thủy.[tham 115] Trong thời gian con của Minh là Vương Hợi tại vị, kinh tế Thương tộc đạt đến đỉnh cao mới, bốc từ ghi rằng Vương Hợi trong một lần tế tự có thể dùng nhiều đến 50 đầu bò. Thủ lĩnh Miên Thần của Hữu Dịch thị cưỡng bách Vương Hợi giao ra gia súc và nhân khẩu, Vương Hợi cự tuyệt, Miên Thần liền sát hại Vương Hợi và đoạt lấy bò dê.[tham 116] Về sau, đệ của Vương Hợi là Vương Hằng đoạt về bò dê từ trong tay của Miên Thần. Con của Vương Hằng là Thượng Giáp Vi liên hiệp với Hà Bá thị thảo phạt Hữu Dịch thị, giết Miên Thần. Thương tộc bắt đầu lớn mạnh đồng thời với việc Hữu Cùng thị suy lạc.[tham 5] Thời kỳ Chủ Nhâm, Chủ Quý, thế lực của Thương tộc không ngừng tăng lên, họ tập hợp các thị tộc bộ lạc ở hạ du Hoàng Hà, từng bước một tiến gần đến khu vực Trung Nguyên của Hạ hậu thị. Sau khi Thiên Ất Thang kế vị, Thương thu thập nhân tài, dưới sự hiệp đồng của Y Doãn, Trọng Hủy, Nữ Cưu, Nữ Phòng, bắt đầu chinh Cát[chú thích 141], lại trước sau tiêu diệt các thị tộc thân Hạ như Vi, Cố, Côn Ngô, làm suy yếu thế lực của Hạ hậu, "mười một cuộc chiến mà thành vô địch thiên hạ[tham 118]". Thang thừa cơ đất Hạ phát sinh hạn tai mà khởi binh tây tiến, triển khai chiến đấu với Hạ Kiệt tại Minh Điều, Kiệt không chặn nổi nên phải chạy đến Nam Sào. Thang xưng vương tại Tây Bạc, Hạ triều hoàn toàn sụp đổ, Thương triều thành lập.[tham 119]

Thể chế chính trị

Thời Hạ, về mặt xã hội đã xuất hiện một số cơ cấu và chế độ quốc gia mang tính đại biểu. Cơ cấu quốc gia của triều Hạ bắt nguồn trực tiếp từ cơ cấu liên minh bộ lạc, có đặc trưng là[tham 11]:

  • Phạm vi quốc gia trực tiếp quản lý chỉ giới hạn trong nội bộ của thị tộc. Vượt ra ngoài bộ lạc Hạ tộc, các thủ lĩnh bộ lạc khác có được quyền quản lý và quyền thống trị tương đối độc lập trên lãnh địa của mình; đối với Hạ hậu, họ sử dụng phương thức thần phục và nạp cống để biểu thị quan hệ tương hỗ.
  • Trên phương diện hình thức chính quyền và chế độ quản lý, có hai bản chất lớn là chuyên chế và dân chủ, thể hiện rõ chế độ quốc gia bắt đầu quá độ từ chính thể thị tộc dân chủ hướng đến chính thể quân chủ.

Đương thời, tồn tại liên minh phương quốc bộ lạc theo phương pháp lấy vương triều Hạ của Hạ hậu thị làm trung tâm, các phương quốc bộ lạc này đều hình thành dưới chế độ thị tộc phong kiến của Hạ hậu thị, và sau đó duy trì quan hệ không thay đổi với Hạ hậu, đồng thời nhận được sự bảo hộ của Hạ hậu. "Thi Kinh" trong phần giảng thuật về thời kỳ chiến tranh giữa Thang và Kiệt có nói "Vi, Cố ký phạt, Côn Ngô, Hạ Kiệt"[tham 79] cho thấy Thỉ Vi thị[chú thích 95] và Cố thị[chú thích 96] hiệp đồng với Côn Ngô thị[chú thích 97], Hạ hậu thị tham dự chiến tranh. Tuy nhiên Hậu Nghệ thuộc Hữu Cùng thị Đông Di có thể "dựa vào dân Hạ để kế thừa Hạ chính"[tham 71], qua đó cũng có thể thấy quan hệ thân cận giữa Hữu Cùng thị và Hạ hậu thị. Trong các ghi chép trong văn hiến, nguyên nhân Thái Khang thất quốc và Thiếu Khang phục quốc được quy kết là do Thái Khang, Tướng, Hàn Trác ra ngoài săn bắn thường nhật, không quan tâm đến dân sự. Tuy nhiên vào tiền kỳ Hạ triều, nông nghiệp chưa phát triển, nhiệm vụ săn bắn đều do các cường đinh tráng nam trong nội bộ bộ lạc đảm nhiệm, việc quân chủ săn bắn bên ngoài do vậy là hoạt động sản xuất bình thường, không phải là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến mất quyền mất nước. Vào sơ kỳ Hạ triều tồn tại cảnh tượng tạp cư đan xen giữa Hạ tộc và ngoại tộc, giữa các bầy người xảy ra đấu tranh liên miên. Uy hiếp lớn nhất của Hạ tộc đến từ Di tộc phía đông, hai tộc triển khai chiến tranh hơn 100 năm, đến thời Trữ, Hòe thì mới hạ màn. Thời kỳ "vô vương" kéo dài bốn mươi năm từ khi Thái Khang thất quốc đến Thiếu Khang phục quốc chứng minh rằng Đông Di tộc khi ấy có thế lực cường thịnh, cũng phản ánh cơ sở của chính quyền Hạ hậu không chắc chắn. Nghệ thuộc Di tộc song lại được Hạ dân tán thành, thông qua hình thức xua đuổi Thái Khang mà đoạt được quyền vị Hạ hậu, cho thấy vẫn còn tồn tại đặc trưng dân chủ thiện nhượng của xã hội nguyên thủy "đức suy thì thay thế".[tham 39]

Sau khi Thái Khang thất quốc, Thiếu Khang từng chạy đến chỗ Hữu Ngu thị. Thủ lĩnh Hữu Ngu thị là Ngu Tư[chú thích 69] gả hai con gái cho Thiếu Khang, lại ban điền ấp cho Thiếu Khang, Thiếu Khang đang lúc khốn nan nay có được một địa vị nhất định. Tuy nhiên, Hữu Ngu thị và Hạ hậu thị không có quan hệ huyết thống trực tiếp, song thủ lĩnh Hữu Ngu thị có vẻ như đại lực ủng hộ Hạ hậu thị, thể hiện rõ rằng bộ lạc thần thuộc Hạ hậu thị bắt đầu chấp thuận sự thống trị "gia thiên hạ" của Hạ hậu thị, thừa nhận rằng sự thống trị của Hạ hậu thị mới là chính thống.[tham 11]

Quốc gia mà chính quyền Hạ hậu kiến lập là một quốc gia phôi thai nguyên thủy, do vậy sức sản xuất ở mức thấp, cơ cấu chính trị không hoàn thiện, hệ thống giao thông lạc hậu, do vậy thế lực của Hạ hậu giới hạn trong khu vực vương kỳ rộng chừng 100 lý. Khu vực ngoài cương giới của Hạ, Hạ hậu chỉ có thể thông qua phương thức kết minh hòa hiếu để duy trì ảnh hưởng của mình. Kiểu cục thế này là đặc trưng quốc gia chung của Tam Đại thượng cổ là Hạ, Thương và Tây Chu.[tham 5]

Thể hệ quan chức

"Lễ ký-Tế nghĩa" viết rằng "thời xưa, Hữu Ngu thị quý đức và thượng xỉ, Hạ hậu thị quý tước và thượng xỉ", phản ánh người Hạ xem trọng quan vị, cũng qua đây có thể nói chức quan đời Hạ có phân biệt đẳng cấp cao thấp rõ ràng.[tham 120] Trong văn hiến hậu kỳ có chép rằng thời Hạ đã lập chuỗi quan chức lớn nhỏ. Trong "Thượng thư-Cam thệ" có ghi "đại chiến ở Cam, bèn triệu lục khanh, Vương nói: Ôi![chú thích 142], lục sự chi nhân, ta thệ cáo ngươi"; còn trong "Mặc tử-Minh quỷ" có viết "tả hữu lục nhân"; lục khanh, lục sự chi nhân, lục nhân có khả năng giống như giống như lục khanh thời Chu, sáu vị đại quan giúp đỡ Hạ hậu quản lý sự vụ quốc gia.[tham 121] "Lễ ký-Minh đường vị" có nói đến "Hạ hậu thị quan bách" chỉ là quan viên hạ cấp của lục sự chi nhân.[tham 122] Từ "bách" trong "quan bách" chỉ số nhiều, cũng không phải là số tròn chục, có rất ít ghi chép về chức vị của quan bách.[tham 61] Thời Hạ, có nhiều chức quan gọi là "chính", có "mục chính" quản lý việc chăn thả gia súc, bào chính quản lý việc nấu ăn nhà bếp, xa chính chuyên quản lý việc chế tạo xe. Bên dưới quan "chính" còn tồn tại tiểu lại gọi là "công". "Hạ thư" viết "tù nhân dĩ mộc đạc[chú thích 143] tuẫn vu lộ".[tham 123]”, quan viên mà Hạ hậu cho đi tứ xứ tuần chinh thi ca và ý kiến gọi là "tù nhân". "Hạ thư" có viết "Thần bất tập ư phòng[chú thích 145][chú thích 146], mậu[chú thích 147] tấu cổ, sắc phu trì, thứ nhân tẩu[tham 124]", tự thuật về một khoảng thời gian xảy ra nhật thực, có "mậu" quan đánh trống lớn để báo cho mọi người, mỗi quan lại và thứ dân tự chạy vội vàng báo cho nhau. "Tù nhân", "mậu", "sắc phu" đều thuộc tiểu lại cấp "công"[tham 61] Hạ hậu có khả năng còn có "quan chiêm"[chú thích 148][chú thích 149] chuyên lo việc bói toán bằng mai rùa và cỏ thi (tức bốc thệ). "Mặc Tử-Canh trú" chép rằng Hạ hậu Khải đúc đỉnh ở Côn Ngô, từng thông qua bốc quan dưới quyền là Ông Nan Ất để cầu vấn thiên thần[chú thích 150][tham 99] Ngũ phục cống phú từ Cửu châu là nguồn kinh tế chủ yếu của Hạ hậu thị, trong số các "quan bách" của Hạ hậu thị có nhiều người chuyên lo việc trưng thu phú dịch.[tham 5] Trong "Thượng thư-Hạ thư", liên quan đến quá trình thiết quan phân chức về đại lược, có viết "phú nạp dĩ ngôn, minh thí dĩ công, xa phục dĩ dung.[chú thích 151][tham 127]

Chế độ phú nạp

Hình thể hiện khái niệm Ngũ phục
("Khâm định thư kinh đồ thuyết" thời Thanh)

Chế độ thị tộc phong kiến thời Hạ cũng có sự thể hiện về mặt kinh tế. Thượng thư viết "Tứ hải hội đồng, lục phủ khổng tu. Thứ thổ giao chính, để thận tài phú, hàm tắc tam nhưỡng thành phú, trung bang tích thổ, tính, chi đài đức tiên, bất cự trẫm hành"[tham 98], tức nói thị tộc bộ lạc trong tứ hải đều quy phụ Hạ hậu, sáu loại vật chất kim mộc thủy hỏa thổ cốc đều chịu trị lý, phân biệt rõ ràng ruột đất tốt xấu các xứ, đem phân vào ba hạng để quyết định số lượng phú nạp, khiến cho việc phú nạp được hợp lý mà không thiên lệch, việc ban đất, ban họ căn cứ vào quan hệ giữa phương quốc bộ lạc và Hạ hậu mật thiết hay xa cách để định ra thứ tự phong kiến trước sau. Thiên "Vũ cống" cũng liệt ra tình hình cụ thể về vật phẩm mà Cửu châu phú nạp, đem số lượng vật phẩm phân thánh 9 hạng: thượng thượng, trung thượng, hạ thượng, thượng trung, trung trung, hạ tủng, thượng hạ, trung hạ, hạ hạ.[chú thích 110] Ngoài ra, còn căn cứ vào cự ly địa lý xa gần so với đô ấp của Hạ hậu thị mà phân ra "Ngũ phụ" điện, hầu, tuy, yêu, hoang[chú thích 152].

  • Điện phục gồm các phương quốc bộ lạc có cự ly dưới 500 lý tính từ đô thành của Hạ, là khu vực cung ứng lương thực chủ yếu của đô thành Hạ. Trong 100 lý phú nạp bó lúa, trong 100-200 lý thì phú nạp bông lúa, trong 200-300 lý thì phú nạp hạt lúa nguyên trấu, trong 300-400 lý thì phú nạp gạo thô, trong 400-500 lý thì phú nạp gạo tinh.
  • Hầu phục gồm các phương quốc bộ lạc có cự lý từ 500-1000 lý tính từ đô thành của Hạ, là phong địa của thị tộc chư hầu của Hạ hậu thị. Từ 500-600 lý là thải địa[chú thích 153] (tức phong địa của khanh đại phu), từ 600-700 lý là tiểu quốc của nam tước, từ 700-1000 lý là đại quốc của hầu bá.
  • Tuy phục là khu vực có cự ly 1000-1500 lý tính từ đô thành Hạ, là khu vực ven nằm trong phạm vi thế lực của Hạ hậu. Trong ba trăm lý đầu thi hành quản lý văn hóa giáo dục, trong hai trăm lý còn lại tiến hành phát huy vũ lực để phòng vệ.
  • Yêu phục là khu vực có cự ly 1500-2000 lý tính từ đô thành Hạ, là khu vực mà Hạ hậu phải thông qua phương pháp kết minh giao thiệp để gia tăng ảnh hưởng. Trong ba trăm lý đầu thì thông qua đồng minh sống chung hòa bình, hai trăm lý còn lại là nơi lưu đày dân Hạ.
  • Hoang phục là khu vực có cự ly 2000-2500 lý tính từ đô thành Hạ, là cương vực của dị tộc, chỉ có liên hệ gián tiếp với Hạ hậu thị. Trong ba trăm lý đầu là các dân tộc thiểu số, hai trăm lý ngoài là nơi lưu đày[tham 128].

Miêu tả về Cửu đẳng và Ngũ phục là theo cách nhìn của người thời Chu đối với kinh tế phú nạp của triều Hạ, không nhất định là thực tế vào thời Hạ. Như thép, thép cứng không có nhiều khả năng là vật phẩm thời Hạ, tước vị chư hầu thời kỳ Hạ cũng không có cách nào khảo chứng. Tuy nhiên, trong đó phản ảnh một số quan điểm, như Hạ hậu căn cứ đường đi xa gần và tình hình sản xuất các nơi để định ra các sản vật phải nộp khác nhau, có thể đúng là thực tế vào thời Hạ.[tham 5]

Luận thuật về chế độ phú nạp của triều Hạ, "Mạnh Tử" viết "Hạ hậu thị năm mươi[chú thích 154] mà cống, người Ân bảy mươi[chú thích 154] mà trợ, người Chu trăm mẫu mà triệt, kỳ thực đều đánh thuế thập phân"[tham 43], ý là chế độ "cống" thời Hạ, "trợ" thời Ân và "triệt" thời Chu thực tế đều buộc dân hộ nộp một phần mười vật phẩm làm ra mỗi năm, và chế độ điền phú Tam Đại Hạ-Thương-Chu một mạch nối tiếp nhau, Cố Viêm Vũ dựa vào đó mà nhận định "chế độ điền phú từ thời cổ đến nay, thực tế bắt đầu từ Vũ".[tham 129] Chế độ thập phân của triều Chu lấy tổng thu hoạch bình quân trong vài năm của một dân hộ, sau đó thu một số trung dung không đổi làm số lượng thuế phải nộp.[chú thích 155], với sức sản xuất và sức bức xạ của chính quyền thời Hạ thì vẫn chưa đủ khả năng thi hành chế độ địa tô thực vật như vậy. Mạnh Tử viết chữ "cống", mang nghĩa thể hiện là giữa dân chúng và quý tộc không có yếu tố cưỡng chế quá lớn, mà có khả năng tồn tại tính tự nguyện ở một mức độ nhất định. Chế độ phú cống mang tính chất dân chúng tự chủ này phù hợp với thời Hạ, vốn có sức sản xuất thấp kém và chính quyền của Hạ hậu thị có cơ cấu không hoàn chỉnh, cũng gần gũi với trật tự kinh tế dân chủ của thị tộc bộ lạc nguyên thủy. Vào mạt kỳ triều Hạ, quan hệ giữa Hạ hậu thị và phương quốc bộ lạc xấu đi, Hạ hậu Kiệt thảo phạt tứ xứ, ông tăng số điền phú quy định để sung cho quân phí, tăng thêm gánh nặng cho nhân dân, kích thích tâm lý bất mãn, khiến họ phản lại Hạ hậu mà chạy sang với Thương Thang. Trong lúc chinh Hạ, Thang từng thề trước mọi người "tội Hạ như thế nào? Hạ vương làm hại đến sức của mọi người, chia cắt Hạ ấp, có dân chúng mệt mà chẳng giúp" để trách tội trạng chủ yếu của Kiệt. Ngoài việc cống thập phân, Kiệt còn bắt dân binh chinh dịch, sau đó dân chúng bất mãn nên chọn thái độ bất hợp tác. Nhìn sang chế độ "trợ" thời Ân-Thương, bình dân bách tính ngoài nghĩa vụ sản xuất nông nghiệp còn có trách nhiệm lao dịch với binh dịch là chính, kết quả là Thương tộc có thể động viên binh lực lớn hơn so với Hạ hậu.[tham 5]

Chế độ hình pháp

Văn hiến cổ chép rằng vào thời kỳ Hạ đã có chế độ hình pháp khá hoàn thiện. "Thượng thư-Lã hình" có viết "Mục vương theo Thục hình thời Hạ mà chế ra Lã hình", tức là chỉ việc Chu Mục vương lấy Thục hình của triều Hạ để chế định chế độ hình pháp của Chu quốc, là tham khảo trọng yếu của "Lã hình". "Thục hình" được viết trong văn bản có nhiều khả năng là một loại[tham 130][tham 131] với "Vũ hình"[chú thích 156] trong Tả truyện "Hạ hữu loạn chính, nhi tác Vũ hình"[chú thích 157] Nhưng Thục hình[chú thích 158], Vũ hình có phải là hình pháp vào thời Hạ hay không, nội dung cụ thể ra sao, đến nay vẫn chưa khảo được. Trong Tả truyện có dẫn thuật từ "Hạ thư" về hình pháp thời Hạ "hôn[chú thích 159], mặc[chú thích 160], tặc[chú thích 161], sát"[tham 133], nghĩa là người phạm vào ba loại tội hôn, mặc, tặc này thì sẽ bị phán tử hình. Thúc Hướng nước Tấn gọi loại hình pháp này là "Cao Dao chi hình".[tham 134] Tuy quan niệm tử hình đã sản sinh từ thời đại đồ đá mới, song lý quan của Vũ là Cao Dao có khả năng là nhân vật đầu tiên pháp luật hóa tử hình.[tham 61] "Hoàn thổ[chú thích 162]"[chú thích 163] của Hạ hậu Hòe, nơi Thương Thang bị Hạ kiệt giam giữ là "Hạ đài" chính là nhà giam thời Hạ[chú thích 164], nhà giam được ghi chép sớm nhất trong sách sử Trung Quốc.[tham 34][chú thích 165] Hoàn thổ là một loại nhà giam nguyên thủy, có hình tròn được đào bên dưới lòng đất, trên mặt đất dựng bờ rào vây quanh thổ lao.[tham 61] "Đại Vũ mô" viết "giới chi dụng hưu, đổng chi dụng uy, khuyến chi dĩ "Cửu ca", tỉ vật hoại"[tham 137], đánh giá rằng việc Hạ hậu lập ra hình pháp là một loại thủ đoạn trong việc tiến hành trị lý dân chúng.[tham 5]

Chế độ quân sự

Do thiếu thốn sử liệu, tình hình cụ thể về chế độ quân sự triều Hạ khó mà khảo chứng được, chỉ có thể rút ra từ sử sách về chiến tranh. Trong "Cam thệ" có chép đến chiến tranh giữa Khải và Hữu Hổ thị, đề cập đến chi tiết Hạ hậu triệu lệnh Lục khanh[chú thích 166][chú thích 167], lục khanh là gọi chung tướng lĩnh sáu lộ quân đội,[chú thích 168] mỗi người trong đó lãnh đạo một đội quân, Hạ hậu có quân quyền tối cao, chỉ huy lục khanh, có thể thấy vào thời Hạ đã có chế độ quân quyền tập trung. "Cam thệ" có ghi rằng Hạ hậu ban hành lệnh động viên khi chuẩn bị thảo phạt Hữu Hổ thị, đây là ghi chép quân pháp sớm nhất trong lịch sử Trung Quốc, rằng "tả bất công vu tả, nhữ bất cung mệnh; hữu bất công vu hữu, nhữ bất cung mệnh; ngự phi kì mã chi chính, nhữ bất cung mệnh. Dụng mệnh, thưởng vu tổ; phất dụng mệnh, thưởng vu xã. Dữ tắc nô lục nhữ"[chú thích 169][tham 121]”, phản ánh quân pháp vào thời Khải tương đối nghiêm khắc.[tham 61]. "Tư Mã pháp-Thiên tử chi nghĩa ghi "kì, Hạ hậu thị huyền thủ, nhân chi chấp dã. Chương, Hạ hậu thị dĩ nhật nguyệt, thượng minh dã", có vẻ nói đến việc quân đội của Hạ hậu trên chiến trường có người cầm cờ sử dụng cờ đen để chỉ huy, binh tốt dựa vào dấu hiệu hình nhật nguyệt mà nhận biết.[tham 139]

Kết hợp các ghi chép trong văn hiến và phát hiện khảo cổ có thể biết rằng thời Hạ có hai loại binh chủng là xa binh và bộ binh, đương thời còn chưa có kị binh. Thời Hạ đã có mã chiến xa làm bằng gỗ, binh sĩ trên xe phân thành tả, hữu, ngự, ngự giả điều khiển chiến xa và chỉ huy tác chiến, còn binh sĩ tả hữu bảo vệ cho ngự giả. Nhưng dựa theo sức sản xuất thời viễn cổ mà nói, việc chế tạo xe ngựa rất hạn chế, chỉ có thể cung ứng cho Hạ hậu hoặc tướng lĩnh chỉ huy thượng cấp sử dụng, xa binh không phải là chủ lực trên chiến trường. Bộ binh là bộ phận tổ thành chủ yếu của quân đội thời Hạ. Đương thời, binh sĩ và nông dân hợp nhất, chưa có quân đội chuyên nghiệp hóa, vào thời bình họ tham gia hoạt động nông nghiệp và súc mục nghiệp như thường, trong thời kỳ chiến tranh thì họ biến thành lực lượng quân sự.[tham 140] Binh khí thời viễn cổ bắt nguồn từ công cụ lao động sản xuất, đa số công cụ có thể sử dụng cho cả chiến tranh và lao động. Căn cứ vào các di vật khai quật được tại di chỉ văn hóa Nhị Lý Đầu, binh khí thời Hạ chủ yếu làm từ gỗ, đá, xương, ngoài ra sau kỳ thứ ba phát hiện được một ít binh khí bằng đồng thanh. Binh khí làm bằng gỗ chủ yếu là thù, bổng (gậy), cung, song do lõi gỗ dễ mục, số dụng cụ còn lại khá ít. Binh khí làm bằng đá có rất nhiều chủng loại, đại biểu có búa đá, rìu đá, mác đá, cầu đá, đầu mũi tên làm từ đá, đầu mâu làm từ đá. Vỏ trai dùng nhiều trong chế tạo đầu mũi tên, cũng như là vật phụ trợ để tăng cường tính sát thương cho thù gỗ hay gậy gỗ. Từ kỳ thứ ba về sau xuất hiện binh khí bằng đồng thanh, song chỉ là số ít, có khả năng là để Hạ hậu, tướng lĩnh và nhân sĩ thuộc thượng tầng trong xã hội đeo. Ngoài ra, còn có binh khí lễ nghi làm bằng đồng thanh và ngọc thạch, dùng làm vật phẩm tùy táng cho quý tộc.[tham 141]

Nhân khẩu

Nhân khẩu triều Hạ là vấn đề chưa thể xác định, do niên đại xa cách, chỉ có thể thông qua suy tính số học tiến hành nghiên cứu. "Hậu Hán thư-Quận quốc chí" bổ chú, dẫn từ "Đế vương thế kỷ" của Hoàng Phủ Mật (215-282) nói rằng: "đến khi Vũ bình thủy thổ, hoàn thành Cửu châu,...,dân khẩu 1.3553.923 người[tham 142]", song thực tế con số này là do Hoàng Phủ Mật căn cứ vào nhân khẩu thời Tần, Hán, Tây Tấn mà suy tính ngược ra.[chú thích 170] Học giả hiện đại Tống Trấn Hào căn cứ việc khi Thiếu Khang cát cứ Luân ấp "hữu chúng nhất lữ[chú thích 72]" cùng với chủ giải của Đỗ Dự "500 người là một lữ", tiến hành suy tính và nhận định 500 người chỉ là binh số có thể phái đi, cộng thêm người già, phụ nữ, trẻ nhỏ thì Luân Ấp có nhân khẩu 1500-2500 người, là số nhân khẩu một thành ấp hạng trung tiểu thời Hạ[tham 144]. Tuy nhiên, "chúng nhất lữ" chưa hẳn là một đơn vị số lượng chính xác, cũng có thể lý giải là mang ý một quần thể người, chỉ có thể nói rằng vào thời kỳ Thiếu Khang đã có khái niệm về số lượng nhân khẩu nhất định. Do không có văn hiến ghi chép truyền thế đến nay, ngay cả việc thời Hạ đã từng tồn tại chế độ điều tra nhân khẩu, hiện cũng không thể thảo luận. Thống kê nhân khẩu chỉ có ý nghĩa trong giới hạn phạm vi không gian cụ thể, song nay không thể phục nguyên chính xác phạm vi thế lực cụ thể của triều Hạ, do vậy cũng không thể tham khảo nghịch suy.[tham 143] "Thượng thư đại truyện- Ngu truyện" giảng thuật là vào thời Thuấn "tám nhà xưa là một lân, ba lân thành một bằng, ba bằng thành một lý năm lý thành một ấp, mười ấp thành một đô, mười đô thành một sư, châu gồm mười hai sư". Vương Dục Dân căn cứ theo ghi chép này, giả sử mỗi nhà có năm khẩu, tính rằng thời Ngu Hạ có 432.000 hộ, 2,16 triệu người.[tham 145] Cuối cùng, dựa theo di chỉ khảo cổ văn hóa Nhị Lý Đầu để suy tính, Tống Trấn Hào thống kê rằng có ba thành ấp có nhiều đến 5000 cư dân, một chỗ có 4000-5000 nhân khẩu, 4 chỗ có 3000 nhân khẩu, 9 chỗ có 1.000 hay 2.000 nhân khẩu, 9 chỗ có 500-900 nhân khẩu, 5 chỗ có dưới 300 nhân khẩu. 27 thành ấp dạng mẫu bình quân nhân khẩu 1.000-1800 người, do vậy ước tính tổng nhân khẩu trong khoảng 2,4-2,7 triệu người.[tham 144]

Xã hội

Triều Hạ nằm trong khoảng thời gian manh nha quá độ từ thị tộc bộ lạc đến quân chủ quốc gia, lễ học gia cổ đại xác định triều Hạ là kết thúc của thời kỳ "Đại đồng", bắt đầu thời kỳ "Tiểu khang". Toàn thiên "Lễ ký-Lễ vận" mô tả toàn diện về xã hội "Tiểu khang" bắt đầu từ thời Vũ, thời kỳ Đại đồng "Thiên hạ là của chung, tuyển dụng người hiền năng", song về thời kỳ "Tiểu khang" thì viết rằng "nay đại đạo[chú thích 171] đã ẩn, Thiên hạ là của triều đình", giảng thuật là thời Vũ Khải "công thiên hạ" biến thành "gia thiên hạ"[chú thích 172], không truyền cho người tài đức mà truyền cho con. Biến đổi này là bước ngoặt trong quá trình phát triển chính trị xã hội Trung Quốc, nguyên nhân chính là hình thức sản xuất vật chất phát triển nhanh chóng trong xã hội vãn kỳ thời đại đồ đá mới. Trong khi sản lượng vật phẩm dư thừa nhiều lên, thì quyền lợi của quý tộc thị tộc cũng tăng cao, theo sau đó là mâu thuẫn nội bộ thị tộc trở nên mãnh liệt và một thiểu số quý tộc thượng tầng lũng đoạn đối với của cải vật chất. Dưới tình hình này, chế độ thiện nhượng dân chủ trong thị tộc bộ lạc không thể thích ứng với hình thế xã hội mới và bị chế độ quân chủ thế tập thay thế. Chế độ thế tập sản sinh cạnh tranh tranh đoạt quyền lực trong nội bộ thị tộc, bào tộc, cuối cùng xuất hiện vấn đề quân sự.[tham 5] Tình hình này ngay từ thời kỳ Thuấn Vũ đã cấu thành vấn đề, vì vậy Vũ mới có thể phá lệ thiện vị cho con.[chú thích 173] Hoặc nói là Vũ trước tiên muốn nhượng cho Cao Dao tuổi đã cao, rồi lại nhượng cho Ích song người này không được lòng người, đối với việc này người thời Chiến Quốc nói rằng Vũ bề ngoài là truyền Thiên hạ cho Ích, song kỳ thực lệnh cho Khải tự đoạt lấy.[tham 147]

"Lễ ký-Đàn cung hạ" nói rằng "tích giả Hữu Ngu thị quý đức nhi thượng xỉ[chú thích 174] Hạ hậu thị quý tước[chú thích 175] nhi thượng xỉ, Ân nhân quý phú nhi thượng xỉ; lại nói rằng "Hạ hậu thị vị thi kính[chú thích 176] vu dân nhi dân kính chi". Trước thời Hạ, thời kỳ Thuấn thực hành chế độ thiện vị, quân chủ dựa theo phẩm hạnh mà thoái nhượng, coi trọng đức tính của người kế tục. Đến thời kỳ nhà Thương, sức sản xuất được nâng cao đáng kể, các hộ gia đình có sản phẩm dư thừa, nhân dân bắt đầu xem trọng việc tích lũy của cải. Thời Hạ thuộc giai đoạn quá độ giữa xã hội thị tộc nguyên thủy và xã hội phong kiến thế tập, hình thành quan niệm đẳng cấp, giá trị của con người dần được định vị dựa theo đẳng cấp của họ trong xã hội, sự khác biệt đẳng cấp này được truyền cho nhau theo phương thức thế tập cha chết con nối, anh chết em kế tục. Một cá nhân trong xã hội được đãi ngộ theo lễ tiết, căn cứ theo đẳng cấp xã hội của họ chứ không phải theo đức tính phẩm cách của họ. Triều Hạ nằm ở giai đoạn quá độ giữa hậu kỳ của thời đại đồ đá mới và thời đại đồng thanh, về sinh hoạt xã hội thì kỹ thuật sản xuất được nâng cao, thực hiện trung ương tập quyền đồng thời có sự biến hóa về chất.[tham 5]

Kinh tế

Nông nghiệp

Vào thời Hạ, văn minh nông nghiệp có sự phát triển khá lớn. "Luận ngữ-Thái bá" ghi rằng "Vũ tận lực vào ngòi lạch", biến thủy tai thành thủy lợi, phục vụ trồng cấy. Kỳ thực việc ứng dụng kỹ thuật thủy lợi là do nhân dân lưu vực Hoàng Hà trong quá trình lao động thực tiễn dần tích lũy được, không phải chỉ do Đại Vũ tiến hành[tham 39] Theo truyền thuyết, đại thần của Vũ là Nghi Địch bắt đầu cất rượu, Hạ hậu Thiếu Khang cũng phát minh ra phương pháp cất rượu nếp. Vào hậu kỳ thời đại đồ đá mới, văn hóa Long Sơn thuộc văn hóa Trung Nguyên đã có tập quán cất rượu, đến thời Hạ khi mà sức sản xuất cao hơn thì cất rượu ngon, uống rượu ngon trở thành một cách để tượng trưng cho quyền lực và tài lực.[tham 148] Trong văn hiến cổ có ghi chép đến các truyền thuyết "Đỗ Khang làm rượu"[tham 149], "Nghi Địch làm rượu"[tham 150], "Thái Khang làm rượu nếp", "Thiếu Khang làm rượu nếp"[tham 151], chúng là những bằng chứng về tầm quan trọng của rượu trong thời kỳ này. Thời kỳ Hạ-Thương-Tây Chu, rượu đều cất từ lương thực và có số độ không cao, cũng không nồng mạnh. Trong "Lễ ký-Ngọc tảo" có chép rằng cổ nhân uống ba chén (túc) rượu xong thì đầu óc vẫn tỉnh táo.[chú thích 177] Để đáp ứng yêu cầu sản xuất nông nghiệp, người ta khám phá ra quy luật các mùa của nông sự, loại nông lịch vẫn được lưu hành đến nay từng được gọi là Hạ lịch- có khả năng được biên thành vào thời Hạ. Súc mục nghiệp có sự phát triển nhất định, còn có một số thị tộc bộ lạc chuyên môn chăn nuôi, như Hữu Hỗ thị sau khi thua Hạ hậu trong trận chiến tại Cam bị biếm làm mục nô làm việc chăn nuôi. Thức ăn chủ yếu của thứ dân Tam đại là cháo, cơm nấu từ các loại hạt. Đem các loại kê, gạo nấu thành cháo loãng, cháo đặc dùng để ăn, xã hội thượng tầng thì ăn nhiều cơm, có khi còn ăn rau xanh. Chỉ khi cử hành hoạt động tế tự quy mô lớn thì mới giết thịt gia súc để tế, thịt cúng đặt ở trong chiếc đỉnh trữ dưới lòng đất.[tham 153][tham 154][tham 155] Tại nhiều điểm di chỉ văn hóa Nhị Lý Đầu phát hiện được các mẫu vật vỏ kê, vỏ thóc.[tham 41]

Thủ công nghiệp

"Khảo công ký" có viết rằng "Hạ hậu thị thượng tượng", thể hiện rằng Hạ hậu xem trọng sản xuất thủ công nghiệp. Triều Hạ thành công trong việc đưa văn minh Trung Nguyên từ thời đại đồ đá quá độ sang thời đại đồ đồng. Các đồ vật thời đại đồ đá mới như đồ đá tinh xảo, đồ xương sừng, đồ vỏ trai dần bị đồ gốm, đồ sơn mài, đồ ngọc thạch, đồ ngọc lam, đồ đồng, đồ đồng thanh thay thế. Tương truyền, vào thời kỳ Nghiêu Thuấn đã sử dụng đồ sơn, sang thời kỳ Hạ Vũ được sử dụng làm đồ tế, "mặc nhiễm kỳ ngoại, nhi chu họa kỳ nội".[tham 156] Thời kỳ viễn cổ, nhân dân sử dụng rộng rãi đồ gỗ và sơn, song đồ làm bằng gỗ dễ dàng bị mục, không dễ bảo tồn, hiện nay khai quật được khá ít. Tại di chỉ Nhị Lý Đầu khai quật được một cái bàn nhỏ được sơn, lớp gỗ đều đã mục nát, song vẫn có thể phân tích ra hình dạng. Từ việc nghiên cứu hình dạng, phát hiện ra có nhiều loại như ống sơn, trống sơn, bát sơn, hộp sơn đáy bằng, hay quan tài sơn. Chế tạo đồ ngọc thạch thời Hạ đã có trình độ tương đối, "Tả truyện" viết rằng vào thời Chu sơ phân phong Lỗ quốc công Bá Cầm, ban cho bảo ngọc truyền thế, "Hạ hậu thị chi hoàng[chú thích 178]"[tham 157] Tại di chỉ Nhị Lý Đầu khai quật được nhiều loại đồ ngọc như qua ngọc, đao ngọc, khuê ngọc, tông ngọc, bản ngọc, việt ngọc. Các loại đồ ngọc này dùng làm vật phẩm trang trí trong lễ nghi, không phải là công cụ dùng trong thực tiễn. Trong số văn vật khai quật thuộc kỳ thứ ba của văn hóa Nhị Lý Đầu có binh khí làm bằng đồng thanh sớm nhất của Trung Quốc, ứng với ghi chép "Vũ huyệt chi thời, dĩ đồng vi binh".[tham 158] Có nhiều chủng loại đồ đồng như qua, đao, đục, chùy, móc câu. Ngoài ra, còn phát hiện vết tích của việc chế tạo đồ đồng như than gỗ, vụn đồng đỏ, mảnh khuôn đúc, mảnh nồi nấu.[tham 61]

Vào thời kỳ đồ đá mới, nghề xe sợi dệt vải có tiến bộ, xuất hiện khung cửi nguyên thủy, nguyên liệu xe sợi dệt vải trong xã hội hạ tầng phần nhiều là từ sắn dây, đay, còn trong xã hội thường tầng thì dùng nhiều lông[chú thích 179], da, đương thời đã có tập quán nhuộm y phục.[tham 160][tham 159] Mặc dù đến nay vẫn chưa phát hiện ra chứng cứ khảo cổ chứng tỏ văn hóa Nhị Lý Đầu sử dụng lụa, song đã có phát hiện khảo cổ liên quan trong văn hóa Long Sơn, văn hóa Đại Vấn Khẩu, văn hóa Lương Chử có niên đại sớm hơn[tham 161], kết hợp với ghi chép trong "Hạ tiểu chính" là "tam nguyệt,... nhiếp tang. Tang nhiếp nhi ký chi, cấp tang dã....thiếp, tử thủy tàm[tham 162], thì việc người Hạ từng sử dụng sản phẩm tơ lụa cũng có tình có lý.[tham 163]

Thương nghiệp

"Diêm thiết luận" có viết rằng "Hạ hậu dùng sò đen"[tham 164], cho thấy người thời Hán nhận định triều Hạ dùng tiền vỏ sò. Nhiều nền văn hóa viễn cổ trên thế giới dùng vỏ sò vỏ trai trong thiên nhiên làm tiền tệ, tiền đề của việc này là phải đủ về số lượng, đồng thời có thể cung ứng vỏ sò biển trong một thời gian dài. Tuy nhiên, Hạ hậu thị là văn minh sông nước, phạm vi thế lực chỉ giới hạn trong trung hạ du Hoàng Hà, đến trung vãn kỳ mới khoách trương đến bờ Hoàng Hải, trước đó Hạ hậu thị từng đối địch một thời gian dài với tộc Di ở phía đông, không có nhiều khả năng dự trữ được nhiều vỏ sò vỏ trai. Thương nghiệp giao dịch vào thời Hạ có khả năng thông qua hạt lương thực và gia súc còn sống để hoàn thành. Tại di chỉ Nhị Lý Đầu phát hiện vỏ sò thiên nhiên và nhân tạo, chúng có khả năng đảm đương nhiệm vụ tiền tệ.[tham 61]

Giao thông và kiến thiết

Trong quá trình trị thủy, Đại Vũ mở núi thông sông, có tác dụng lớn đối với sự phát triển giao thông đường thủy và đường bộ thời cổ đại. "Sử ký-Hạ bản kỷ" có viết thời Vũ trị thủy "đi đường bộ ngồi xe, đi đường thủy ngồi thuyền[chú thích 180], đi qua bùn[chú thích 181] dùng khiêu (橇)[chú thích 182], qua núi dùng cúc (檋)[chú thích 183][chú thích 184],... để mở mang cửu châu, thông cửu đạo, vượt cửu trạch, qua cửu sơn,... khi đem đồ cống tương ứng từ địa phương, đến chỗ sông núi thì có tiện lợi[tham 34]" thể hiện khi Đại Vũ trị thủy thì việc thông hành hết sức bất tiện, Đại Vũ lợi dụng các công cụ giao thông như xe, thuyền, khiêu để vượt sông suối bùn cát. Ông suất lĩnh quần chúng xây đắp đường bộ liên thông cửu châu, hỗ trợ việc thực thi chế độ cống nạp, cũng tạo điều kiện cho giao lưu kinh tế giữa các nơi.[tham 166] Khu vực giao thông của Hạ hậu chiều đông tây ít là 500-600 lý, chiều nam-bắc ít là 300-400 lý.[tham 49] "Quốc ngữ-Chu ngữ" có chép "Hạ ra lệnh nói rằng tháng 9 mở đường, tháng 10 xong cầu[tham 74]", tháng 9 nông lịch là sau mùa mưa, sửa sang đường bộ, tháng 10 nông lịch là sang mùa đông khô hạn thì xây cầu.

Di chỉ Nhị Lý Đầu tại Yển Sư có quy mô lớn chưa từng thấy trong lưu vực Hoàng Hà thời viễn cổ, trong văn hóa khảo cổ cùng thời kỳ cũng không có.[tham 95] Tại trung tâm địa lý của khu vực văn hóa Nhị Lý Đầu có thể là một tòa đô ấp hoặc thành thị lớn thời Hạ.[tham 167] Đã xác nhận có hai tòa cung điện số 1 và 2, riêng tại tường phía bắc của cung điện số 2 còn có nền móng số 6 có kích thước đồng đẳng thuộc kỳ thứ 4. Hai quần thể kiến trúc này thể hiện bố cục trục tuyến giữa.[tham 163][tham 168] Cung điện số 1 có hình hơi vuông, khuyết một góc đông bắc, chiều đông tây tổng cộng rộng 96,2 mét, chiều nam bắc tổng cộng dài 107 mét, tổng diện tích mặt đất là 9585 m². Điện đường chính nằm ở phía bắc trông về phía nam, mặt rộng 8 gian, vào sâu 3 gian. Bốn phía có tường vách bao quanh, trong có lang vũ hành đạo, tường đông có một phòng bên. Trên trục tuyến giữa hướng về chính nam có cửa lớn mở rộng, phân thành ba môn đạo, mỗi phía bắc và đông có một cửa bên. Cung điện số 2 đông tây rộng 58 m, bắc nam dài 72,8 m, có tường bao quanh bốn mặt và hồi lang ba mặt đông, nam, tây. Cung điện số 1 và 2 đều có đường ống thoát nước làm từ gốm, song hệ thống ở cung điện số 2 được bảo tồn tương đối hoàn chỉnh, đường ống cấu thành từ nhiều phần ống gốm liên tiếp. Mỗi phần có đường kính từ 16,5–22 cm, dài 52–58 cm, dày khoảng 2 cm, đặt trong một rãnh được đào trước sâu 1 mét dưới đất nhằm đề phòng thấm nước. Bản đá dày 5–7 cm được gác phía trên ống gốm, rãnh, nhằm đề phòng người đi tạo sức ép làm vỡ ống gốm. óng gốm có xu thế tây cao đông thấp, thông qua chênh lệch độ cao để đưa nước mưa từ trong cung điện đình viện ra bên ngoài.[tham 169] Ngoài khu cung điện có đường đất dọc ngang đan xen, xưởng thủ công, tường thành đất nện.[tham 168]

Văn hóa

Nghệ thuật

Thời Hạ, xã hội bắt đầu hình thành giai cấp trên dưới, sản phẩm nghệ thuật cũng theo đó mà phân hóa. Đồ vật mà nhân dân hạ tầng sử dụng có tạo hình thực dụng, hoa văn trang trí giản đơn, phát triển theo phương hướng thẩm mỹ chất phác. Lễ khí của quý tộc vương thân thượng tầng có hoa văn trang trí phức tạp, diễn biến phương hướng tạo hình biến hóa đa dạng. Khí cụ dùng để đựng đồ vật của hạ tầng có hoa văn phần nhiều là các dạng hình học, hoặc có hoa văn gia súc, hoa văn cá và một số đề tài khác có liên quan đến sản xuất nông nghiệp. Lễ khí thượng tầng có hoa văn trang trí thường thấy là hình mây sấm phức tạp, hình mắt, hình con rắn, hình mặt thú, đề tài phần nhiều có quan hệ với quỷ thần.[tham 169][tham 163] Chế tạo đồ gồm tại văn hóa vãn kỳ Long Sơn và văn hóa tảo kỳ Nhị Lý Đầu có giá trị nghệ thuật tương đối cao. Đồ gốm kỳ thứ hai, thứ ba khai quật từ Nhị Lý Đầu có bề mặt phần nhiều được trang trí bằng các loại hoa văn trang sức như vân màu lam, vân dây, vân hình vuông, đôi khi thấy chạm khắc các loại vân hình móng tay, nét vạch, lông chim, vòng tròn.[tham 41] Thời Tam đại chỉ có nghệ thuật trang sức cho các đồ vật thực dụng, thiếu tác phẩm nghệ thuật vì nghệ thuật.[tham 163]

Âm nhạc

Khánh làm bằng đá khai quật tại huyện Hạ, tỉnh Sơn Đông.

Trung Quốc vào 9000 năm trước, tức sơ kỳ thời đại đồ đá mới, đã có xuất hiện nhạc khí[chú thích 185]. Về khởi thủy của âm nhạc tại Trung Quốc, các văn hiến ghi chép khác nhau. "Lã thị Xuân Thu-Cổ nhạc thiên" và "Thượng thư-Ích tắc" ghi rằng vào thời kỳ Đế Khốc, Đế Thuấn đã có nhiều loại nhạc khí, trong đó danh xưng một số loại nhạc khí nói chưa rõ. "Sơn Hải kinh-Đại hoang tây ký" ghi rằng "khai thượng tam tần vu thiên, đắc 'cửu biện' dữ 'cửu ca' dĩ hạ. Thử thiên mục chi dã, cao nhị thiên nhận, khai yên đắc thủy ca 'cửu thiều'", nói lại rằng Hạ hậu Khải cưỡi rồng làm khách Thiên cung, trộm lấy 'cửu ca', 'cửu thiều' 'cửu biện' của Thiên Đế để tự mình hưởng dụng, do vậy mà nhân gian có ca nhạc.[tham 9] "Lã thị Xuân Thu-Âm sơ" ghi rằng khi Đại Vũ tuần thị đông nam thì gặp gỡ nữ nhi của Đồ Sơn thị, Đồ Sơn thị sáng tác một bài ca "Hậu nhân hề y", đấy là tình ca sớm nhất được ghi chép trong văn hiến, có thuyết cho là khởi điểm của Nam âm thời Hán.[tham 170] "Chu Lễ-Đại ty nhạc" ghi rằng người thời Hạ vì ca tụng công lạo trị thủy của Đại Vũ nên biểu diễn "Đại Hạ", dùng làm nhạc vũ tế tự núi sông, đến thời Chiến Quốc còn được Lỗ quốc dùng làm vũ nhạc diễn xuất cung đình.[tham 171] "Lễ ký-Tế thống" ghi rằng "bát dật dĩ vũ Hạ", tám người thành một dật, tám dật là 64 người tổ thành đội hình biểu diễn có chiều dọc ngang đều nhau, dựa theo lễ pháp thời Chu thì chỉ có thiên tử triều Chu mới có thể dùng đội hình lớn như vậy[chú thích 186], có thể thấy "Đại Hạ" có đẳng cấp cao. Nhạc khí thời kỳ Hạ được chế tác từ xương, gỗ, đá, da, gốm; chủng loại bao gồm dụng cụ diêu hưởng, hưởng cầu, địch, tiêu, cổ, khánh, chung, linh, huân, sừng hiệu lệnh. So với các nền văn hóa khảo cổ xung quanh, nhạc khí khai quật thuộc văn hóa Nhị Lý Đầu rất thiếu thốn.[tham 169] Năm 1960, tại tầng kỳ thứ ba của di chỉ Nhị Lý Đầu tại Yển Sư đã khai quật được một huân gốm màu tro, tâm rỗng, hình quả trám, phần đầu có một miệng thổi nhỏ, một bên phần thân giữa có lỗ âm có đường kính 0,4 cm, qua thử nghiệm thì nó có thể phát ra hai âm: la thăng thứ, đô thứ.[tham 9] Cũng phát hiện được thạch khánh làm bằng đá, dài 55,5 cm, cao 28,5 cm, dày 4,8 cm, tạo hình đã tiếp cận khánh lễ làm bằng đồng thanh thời kỳ Thương-Chu.[tham 95]

Văn học

Nhân dân thời Hạ chủ yếu sử dụng hình thức văn học truyền miệng trong sáng tác văn học. Đề tài ca dạo và sinh hoạt lao động có liên hệ mật thiết, và thần thoại được sử dụng để giải thích một số sự vật khó hiểu trong thế giới tự nhiên. Tuy nhiên, những văn học truyền khẩu này không được truyền bá đến nay, nên trước khi có thể phát hiện tài liệu văn tự đồng thời kỳ với triều Hạ, thì không thể có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về văn học thời Hạ. Có thể gọi nó là thời gian nghệ thuật xưa của văn học nghệ thuật Trung Quốc.[tham 172] Người thời Chu súng kính văn hóa triều Hạ, trong tất cả các phương diện đều phỏng theo người thời Hạ mà tạo nên. Trên phương diện ngôn ngữ, người thời Chu nhận định ngôn ngữ thông dụng của triều Hạ là "Hạ ngôn" [chú thích 187] Thời Thượng cổ, "Hạ" 夏, "Nhã" 雅 tương thông, "Hạ ngôn" cũng gọi là "nhã ngôn", là ngôn ngữ được sử dụng trong giao lưu giữa nhân sĩ thuộc thượng tầng xã hội triều Chu, "Thi Kinh" thời Chu chính là sử dụng nhã ngôn để sáng tác[tham 173]

Kỹ thuật

Nghề đúc đồng là thủ công nghiệp mới nổi trọng yếu của triều Hạ. Trong các văn vật thời kỳ thứ nhất và thời kỳ thứ nhì của di chỉ Nhị Lý Đầu, xuất hiện đồ lễ làm bằng ngọc, thể hiện nó có một trình độ văn hóa tương đối. Ngoài ra, nghề làm đồ gốm thời Hạ có khả năng đã trở thành một ngành công nghiệp độc lập rất trọng yếu. Đối với đồ đồng thanh, Trung Quốc đã phát hiện ra dao đồng của văn hóa Nhị Lý Đầu. Nếu như văn hóa Nhị Lý Đầu được xác nhận là văn hóa thời kỳ Hạ, thì đây là đồ đồng thanh của thời kỳ triều Hạ. Công cụ mà người thời Hạ sử dụng được nhận định chủ yếu là đồ đá. "Chu thư" chép rằng vào thời Hạ Kiệt, Côn Ngô thị đem phôi bùn nung thành ngói, cho thấy kiến trúc cuối thời Hạ đã bắt đầu sử dụng ngói.[tham 174]

Trong văn hiến thời Tiên Tần có ghi chép về việc quan triều hạ là Hề Trọng tạo ra xe, viễn tổ nước Tiết là Hề Trọng được Hạ Hậu bổ nhiệm làm 'xa chính', quản lý sự vụ chế tạo xe.[tham 175] "Sử ký-Hạ bản kỉ" cũng ghi chép rằng trong thời Hạ Vũ trị thủy "đi đường bộ ngồi xe, đi đường thủy ngồi thuyền", cho thấy xe đã xuất hiện ngày từ thời Đại Vũ. "Tả truyện" chép rằng "minh thí dĩ công, xa phục dĩ dung"[tham 127], rằng Hạ hậu đem xe làm vật thưởng công cho hạ quan. Ngoài ra, "Thế bản" có chép rằng "Hợi tác phục ngưu[chú thích 188],Tướng Thổ tác thừa mã[chú thích 189][tham 177], và có bốc từ Ân khư làm chứng, chứng minh bộ tộc Thương đồng thời kỳ đã có xe ngựa.[tham 140]

Bè và thuyền độc mộc xuất hiện sớm nhất là vào trung kỳ văn hóa Long Sơn thuộc thời đại đồ đá mới, người Hạ trong một thời gian dài đã cư trú nương nhờ Hoàng Hà, Y Thủy, Lạc Thủy, thuyền bè do vậy trở thành công cụ vượt sông phổ biến. Thời Hạ vào trung hậu kỳ bước vào thời đại đồng thanh, sự xuất hiện của công cụ thuộc kim tạo điều kiện để chế tạo thuyền độc mộc, có thể nói thuyền mộc bản xuất hiện sớm nhất tại Trung Quốc là vào thời Hạ.[tham 178] Tộc Đông Di cư trú ven bờ Hoàng Hải, sở hữu kỹ thuật hàng hải khá cao, đây là lĩnh vực mà Hạ hậu thị với văn minh dòng sông không thể theo kịp. "Luận ngữ-Hiến vấn" chép rằng "Nghệ thiện xạ, Ngạo[chú thích 190]đãng[chú thích 191] chu[tham 44]”, Ngạo tức là con của Hàn Trác tên Kiêu[chú thích 58], rằng ông là một nhân vật giỏi điều khiển thuyền, và lại có chữ "đãng" nên có thể nói đây là một kiểu đi thuyền có mục đích, dùng nhân lực điều khiển khống chế, không phải để trôi dạt như trước. "Vũ cống" nói "triêu tịch nghênh chi, tắc toại hành nhi thượng[tham 98]”, rằng người Hạ biết lợi dụng quy luật thủy triều sáng tối để đi thuyền.

Thiên văn lịch pháp

Người thời Hạ có khả năng đã sở hữu nhiều tri thức về thiên văn, lịch pháp. "Tả truyện-Chiêu công thập thất niên" dẫn từ "Thượng thư-Hạ thư" chép rằng "thần bất tập vu phòng"[chú thích 145][tham 124], chỉ việc Mặt Trời không xuất hiện hoàn chỉnh ở phía trên không của ngôi nhà, đây là ghi chép về nhật thực sớm nhất của Trung Quốc được biết đến[chú thích 192] "Trúc thư kỉ niên" ghi rằng vào năm Hạ Kiệt thứ 15 "Dạ trung tinh vẫn như vũ"[tham 2] (trong đêm sao rơi như mưa), là ghi chép sớm nhất về mưa sao băng. "Thái bình ngự lãm" dẫn "Hiếu kinh câu mệnh quyết" viết "(Vũ thời, ngũ) sao chồng chất như quán châu[chú thích 193], rõ như liên bích[chú thích 194][tham 180]", chép về việc vào sơ kỳ thời Hạ từng xảy ra hiện tượng thiên văn hiếm thấy "ngũ tinh tụ" của Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.[chú thích 195] Thời ba vị quân chủ vãn kỳ triều Hạ là Dận Giáp (Cận), Khổng Giáp, Lý Quý (Kiệt), đều lấy thiên can làm tên, cách làm này gần như phương thức mệnh danh của quân chủ triều Thương, nếu quả thực là xưng vị thời Hạ chứ không phải biệt danh người thời Ân-Chu thêm vào, thì có thể nói phép ghi ngày Can Chi đã xuất hiện vào vãn kỳ triều Hạ[tham 41]. Căn cứ "Trúc thư kỉ niên", lúc thay thế Hạ-Thương, có viết về các hiện tượng kỳ dị "hoàng sắc đích thanh oa, hôn ám đích điều dưỡng, tam cá thái dương, thất nguyệt kết sương hòa ngũ cốc điêu linh" (sương mù màu vàng, một mặt trời mờ, sau đó ba mặt trời, sương giá trong tháng bảy, ngũ cốc tàn rụng), có học giả nhận định đó là ghi chép về phun trào núi lửa Minoa tại khu vực nay thuộc Hy Lạp[tham 182]。   Trong "Luận ngữ", Khổng Tử chủ trương "hành Hạ chi thời"[tham 183], đến nay nông lịch truyền thống Trung Quốc còn có biệt danh là "Hạ lịch", dựa theo những dấu tích này có thể nói rằng vào thời Hạ do nhu cầu sản xuất nông nghiệp, kết hợp tri thức thiên văn tích lũy được mà biên thành lịch pháp giản đơn. "Hạ lịch" đều có ghi chép trong các văn hiến thời Tiên Tần như "Thi Kinh", "Tả truyện", "Trúc thư kỉ niên", ít nhất là thông dụng trong nội bộ nước Đường (tức nước Tấn) thời Chu sơ. "Hạ tiểu chính" nguyên là một thiên của "Đại đái lễ ký", kinh văn này có một bộ phận câu văn giản ước thâm sâu, không như văn phong Đông Chu, chậm nhất là hoàn thành vào tảo kỳ Xuân Thu, là lịch thư sớm nhất của Trung Quốc, có ghi chép giản đơn về vật hậu, khí hậu, tinh tượng các tháng. "Hạ tiểu chính" căn cứ theo sự đầy khuyết của Mặt Trăng mà phân một năm thành 12 tháng, song không có dấu hiệu 5 năm đặt hai tháng nhuận, cũng không phân biệt bốn mùa. Trong ghi chép tháng 5 có "thời hữu dưỡng nhật", trong ghi chép tháng 10 có "thời hữu dưỡng dạ"[tham 162], "Tả truyện" chú giải "dưỡng giả trường dã", nói rằng tháng 5 của "Hạ tiểu chính" có ngày dài nhất (tức Hạ chí", tháng 10 có đêm tối dài nhất (tức Đông chí), tuy nhiên Đông chí tại bình nguyên Hoa Bắc ứng vào tháng 11 thay vì tháng 10, cho thấy rằng loại lịch pháp này không chuẩn xác, niên đại chế thành tương đối nguyên thủy.[tham 39]

Tôn giáo

Mộ không huyệt thời kỳ thứ 3 tại di chỉ Nhị Lý Đầu, bộ xương có dấu hiệu vùng vẫy khi bị trói, biểu thị khả năng là tế người.

Sức sản xuất thời kỳ viễn cổ thấp kém, ngay cả trong điều kiện thời tiết thuận lợi cũng không thể hoàn toàn tránh được nguy hiểm thiếu lương thực. Nhân dân nhận thấy bất lực trước tình hình, tìm cách thông qua lực lượng tự nhiên siêu việt để đạt đến nguyện vọng chi phối tự nhiên nhằm đảm bảo được mùa. Do đó hi sinh người và động vật để làm hài lòng thiên thần, thử lợi dụng hoạt động tế tự nhằm thoát khỏi áp lực của thế giới tự nhiên đối với sinh tồn của nhân loại. Tế người tại lưu vực Hoàng Hà sớm nhất được biết đến là trong văn hóa Tề Gia tại thượng du, đương thời thường là vợ tuẫn táng theo chồng, sau phát triển thành nô bộc tuẫn táng, cho rằng linh hồn của thê thiếp và nô bộc có thể phục vụ chủ nhân trong thế giới sau khi chết[tham 184]. Văn hóa Nhị Lý Đầu cũng có dấu tích của việc tế người, song quy mô rất nhỏ so với số lượng tế tự hàng trăm người thời Thương. Mộ táng tại di chỉ Nhị Lý Đầu thuộc Yển Sư phân thành hai loại là mộ có huyệt và mộ không có huyệt. Mộ đất một người có huyệt chiếm đa số, người được chôn nằm ngửa và thẳng, hiện tượng bồi táng khá ít[tham 169]. Ngoài ra, còn có một thiểu số là mộ không huyệt, không có đồ tùy táng, đôi khi có mảnh vỡ đồ gốm, thậm chí có khi đồng táng với thú vật, có thể thấy người được chôn có địa vị xã hội thấp kém, khi còn sống có khả năng là tội nhân, tù binh chiến tranh, hoặc nô bộc. Nhiều người được chôn trong mộ không huyệt thể hiện dấu hiệu tử vong không bình thường. Thân thể người được chôn có tư thế cực kỳ không tự nhiên, có các dấu hiệu bị trói trước khi chết như hai tay bắt chéo giơ quá đỉnh đầu, đặt trước ngực, hoặc cong về sau lưng, thậm chí còn có một số sọ bị vỡ, thân và đầu tách rời. Có khả năng là chứng cứ về nhân tế, nhân tuẫn thời kỳ Hạ[tham 184]. Trừ tế người, tế ruộng, thời Hạ còn có hoạt động tế nhà, xung quanh cung điện số 1 kỳ thứ ba của di chỉ Nhị Lý Đầu có một số hố tế tự, phát diện xương các loài thú như chó, lợn[chú thích 196] Còn có năm ngôi mộ táng tại khu sân và hành lang, người được chôn đều tử vong không bình thường, không có vật phẩm tùy táng, huyệt mộ chật hẹp, phá vỡ nền móng cung điện, không xác định được là tế tự dựng móng hay tế tự hoàn thành[tham 186]

Nhân dân viễn cổ khi nướng thịt thú thì phát hiện hiện tượng xương bị vỡ, tạo thành những vết nứt vỡ với hình dạng khác nhau, có phần khó hiểu, khiến người xưa chú ý. Sau này, khi đạt được kết quả viên mãn trong các hoạt động như săn thú, chiến tranh, mọi người bắt đầu liên hệ hai thứ với nhau, xem đó là điềm trước của thần linh với sự vật, tích lũy thành tri thức gọi là chiêm bốc. Do trình tự phức tạp, tri thức nhiều và sâu, nên trong bộ lạc có vu sư chuyên việc xem bói, độc quyền giải thích bốc cốt. Lưu vực Hoàng Hà trong thời kỳ văn hóa Long Sơn bắt đầu hưng thịnh chiêm bốc[tham 184]. "Tả truyện" chép rằng triều Hạ có quan lại chiêm bốc[tham 187]. Toàn kỳ thứ 4 văn hóa Nhị Lý Đầu đều khai quật được bốc cốt bả vai bò, dê, lợn. Những bốc cốt này chỉ bị đốt cháy ở mặt sau, không đâm không đục, chưa khắc chữ, tương đối nguyên thủy hơn so với bốc từ Ân Khư[tham 169]

Danh sách quân chủ


triều Hạ (khoảng thế kỷ 21 TCN ─ khoảng thế kỷ 16 TCN)
Thời kỳ Tiên Hạ (khoảng thế kỷ 21 TCN─1990 TCN)
Danh Biệt danh Thời gian tại vị Số năm tại vị Đô thành
Cổn
[chú thích 197]
Cổn 鮌, Bạch Mã 白馬[tham 188]
(Tung bá Cổn)
Không rõ[chú thích 198] 9 năm
[chú thích 198]
Đại Hạ 大夏
Tung 崇
Đại Vũ 大禹, Nhung Vũ 戎禹[tham 190], Cao Mật 高密, Văn Mệnh 文命
(Hạ Vũ 夏禹[tham 191], Đế Vũ 帝禹, Tung bá Vũ 崇伯禹, Hạ bá Vũ 夏伯禹)
[chú thích 199]2029 TCNNhâm Thân—1993 TCN 37 năm
[chú thích 200]
[chú thích 201]
Cao Mật 高密
Hạ hậu thị (1989 TCN─1916 TCN)
Đại Vũ 大禹, Nhung Vũ 戎禹[tham 190], Cao Mật 高密, Văn Mệnh 文命
(Hạ Vũ 夏禹[tham 191], Đế Vũ 帝禹, Hạ hậu Vũ 夏后禹)
[chú thích 202]1989 TCNNhâm Tý—1982 TCN 8 năm
[chú thích 200]
[chú thích 201]
Dương Thành 阳城
Dương Trạch 阳翟
Khải Khai 開[chú thích 112]
(Hạ Khải 夏启, Hạ hậu Khải 夏后启, Hạ hậu Khai 夏后开)
[chú thích 203]1978 TCNQuý Hợi—1963 TCN 16 năm
[chú thích 204]
Khang
[chú thích 66]
Thái Khang 太康[chú thích 66] [chú thích 205]1958 TCNQuý Mùi—1955 TCN 4 năm
[chú thích 206]
Châm Tầm 斟鄩
Khang
[chú thích 66]
[chú thích 207]
Trung Khang 中康, Trọng Khang 仲康, Trọng Lô 仲盧[tham 194][chú thích 66] [chú thích 208]1952 TCNKỉ Sửu—1946 TCN 7 năm
[chú thích 209]
Tướng
[chú thích 210]
Tương An 相安[tham 194] [chú thích 211]1943 TCNMậu Tuất—1916 TCN 28 năm
[chú thích 212]
Đế Khâu 帝丘
Thời kỳ "vô vương" (1915 TCN─1876 TCN)
Nghệ 羿
[chú thích 213]
Hậu Nghệ 后羿 không xưng hậu[chú thích 214] 8 năm
[chú thích 214]
[chú thích 215]
Tư 鉏
Cùng Thạch 穷石
Hàn Trác 寒浞
[chú thích 216]
Trác 浞, Hàn Trác 韩浞[tham 194] 1915 TCNBính Dần─1876 TCN 40 năm
[chú thích 214]
Hạ hậu thị (1875 TCN─1559 TCN)
Khang
[chú thích 66]
[chú thích 217]
Thiếu Khang 少康[chú thích 66][chú thích 218] 1875 TCNBính Ngọ—1855 TCN 21 năm
[chú thích 219]
Luân 綸
Đế Khâu 帝丘
Trữ
[chú thích 220]
Dữ 予, Trữ 宁, Trữ 佇, Vũ 宇, Tướng Mạn 相曼, Dư 輿, Quý Trữ 季杼[tham 194] [chú thích 221]1852 TCNKỉ Tị—1836 TCN 17 năm
[chú thích 222]
Nguyên 原
Lão Khâu 老丘
Hòe Phân 芬, Phương 方, Tổ Vũ 祖武, Phân Phát 芬發[tham 194] [chú thích 223]1833 TCNMậu Tý—1790 44 năm
[chú thích 224]
Mang Hoang 荒, Hòa 和[tham 194] 1789 TCNNhâm Thân—1732 TCN 58 năm
[chú thích 225]
Tiết Tiết 洩[tham 194] [chú thích 226]1730Tân Mùi—1706 TCN 25 năm
[chú thích 227]
Bất Giáng 不降
[chú thích 228]
Giáng 降[chú thích 228][tham 107], Giang Thành 江成[tham 194] [chú thích 229]1702 TCNKỉ Hợi—1644 TCN 59 năm
[chú thích 230]
Quýnh
[chú thích 231]
Kiều 喬, Biển 扁, Cao Dương 高陽[tham 194] 1643 TCNMậu Tuất—1626 TCN 18 năm
[chú thích 232]
Cần
[chú thích 233]
Dận Giáp 胤甲, Quảng 廣, Húc 頊, Đổng Giang 董江, Triền 廛, Dận Giáp ?甲[tham 194] [chú thích 234]1622 TCNKỉ Mùi—1615 TCN 8 năm
[chú thích 235]
Tây Hà 西河
Khổng Giáp 孔甲
[chú thích 236]
[chú thích 237]
Khổng Giáp 孔甲[chú thích 236] [chú thích 238]1612 TCNẤt Tị—1604 TCN 9 năm
[chú thích 239]
Cao Hạo 昊, Khổng Cao 孔皋, Giản Hạo 簡昊[tham 194] [chú thích 240]1601 TCNCanh Thìn—1599 TCN 3 năm
[chú thích 241]
Phát Kính 敬, Kính Phát 敬發, Phát Huệ 發惠[tham 194] [chú thích 242]1596 TCNẤt Dậu—1590 7 năm
[chú thích 243]
Lý Quý 履癸 Kiệt 桀, Quý 癸
(Hạ Kiệt 夏桀)
1589 TCNNhâm Thìn—1559 TCN 31 năm
[chú thích 244]
Châm Tầm 斟鄩
Hà Nam 河南
"Chú": Kết hợp cổ kim bản "Trúc thư kỉ niên" thể hệ suy toán, do niên đại quá xa, ghi chép thiếu thốn, các nhà chuyên môn suy toán khác nhau, niên đại trong biểu trên chỉ để tham khảo.[tham 196][tham 197]

Chú thích

Tư liệu tham khảo

  1. ^ 《夏商周年表》 (bằng tiếng Trung văn giản thể). 夏商周断代工程. Ngày 9 tháng 11 năm 2000.  Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  2. ^ a ă â b c d 《古本竹書紀》.
  3. ^ 吴晋生、吴薇薇. “夏、商、周三代纪年考辨——兼评《竹书纪年》研究的失误” (bằng tiếng Trung văn giản thể) . 天津师范大学学报(社会科学版). Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2010.  Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  4. ^ 柳翼謀 (1919). 《中國文化史》 (bằng tiếng Trung văn phồn thể).  Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  5. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t 晁福林 (1996年6月). 《夏商西周的社会变迁》 (bằng tiếng Trung văn giản thể). 北京师范大学出版社. ISBN 7-303-04144-3.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  6. ^ 《中国文物精华大全•青铜卷》 (bằng tiếng Trung văn giản thể). 国家文物局、商務印書館(香港)、上海辞书出版社. 1994年10月. ISBN 962-07-5174-4.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  7. ^ 《中国文物精华大全•金银玉石卷》 (bằng tiếng Trung văn giản thể). 国家文物局、商務印書館(香港), 上海辞书出版社. 1994年10月. ISBN 962-07-5174-4.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  8. ^ “《藝術與建築索引典》 夏 Xia” (bằng tiếng Trung văn phồn thể). AAT-Taiwan 藝術與建築索引典. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011.  Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  9. ^ a ă â 王子初 (2003年). 《中国音乐考古学》 (bằng tiếng Trung văn giản thể). 福建教育出版社. ISBN 7533435532.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  10. ^ Michael Loewe, Edward L. Shaughnessy (ngày 13 tháng 3 năm 1999). The Cambridge History of Ancient China: From the Origins of Civilization to 221 B.C. (bằng tiếng Anh). Cambridge University Press. ISBN 978-0521470308. 
  11. ^ a ă â b c d 李玉洁 (1999年10月). 《中国早期国家性质》 (bằng tiếng Trung văn giản thể). 河南大学出版社. ISBN 7-81041-690-1.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  12. ^ 宋末元初•金履祥,《資治通鑑thế kỷ 編》.
  13. ^ 宋•邵雍,《皇極經世》、元•马端临,《文献通考》.
  14. ^ 宋•罗泌,《路史•後紀》.
  15. ^ 程平山 (2004年). ““夏代纪年考””. 《中原文物》 (中国天津) (第3期).  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  16. ^ a ă 夏商周断代工程专家组 (2000年10月). 《夏商周断代工程1996-2000年阶段成果报告(简本)》. 中国北京: 世界图书出版公司. ISBN 7-5062-4138-2.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  17. ^ a ă 《尚书•虞书•尧典》.
  18. ^ a ă 徐俊 (2000年11月). 《中国古代王朝和政权名号探源》 (bằng tiếng Trung văn giản thể). 中国湖北武汉武昌区: 华中师范大学出版社. tr. 第37—43页. ISBN 7-5622-2277-0.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  19. ^ 汉•許慎. 《说文解字》. 
  20. ^ 清•徐灏引自宋•戴侗,《说文解字注箋》.
  21. ^ 清•孔廣居. 《说文疑疑》. 
  22. ^ a ă 叶玉森 (1923年). ““殷契钩沉•释夏””. 《学衡》 (bằng tiếng Trung văn phồn thể) (第24期).  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  23. ^ 姜亮夫 (1933年). 《夏殷民族考》 (bằng tiếng Trung văn phồn thể). 上海民族月刊社.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  24. ^ 章炳麟 (1907年7月5日). “《中華民國解》”. 《民报》第十五号 (bằng tiếng Trung văn phồn thể) (日本东京: 中国同盟会). 夏之為名,實因夏水而得  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  25. ^ 许同莘. ““说夏””. 《东方杂志》 (bằng tiếng Trung văn giản thể) 卷四二 (第15号).  Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  26. ^ 陆思贤 (1988年). ““龙凤传说与中华民族的起源””. 《内蒙古师范大学学报》 (bằng tiếng Trung văn giản thể) (第4期).  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  27. ^ 陆思贤 (1983年). ““甘肃、青海彩陶器上的蛙纹研究””. 《内蒙古师范大学学报》 (bằng tiếng Trung văn giản thể) (第3期).  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  28. ^ 清•朱骏声 (1849年). 《說文通訓定聲》 (bằng tiếng Trung văn phồn thể). 黟县学会.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  29. ^ a ă â 楊寬. ““说夏””. 《禹贡》 (bằng tiếng Trung văn giản thể) 卷七 (第6、7合期).  Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  30. ^ 杨国勇 (1985年). ““夏族渊源地域考””. 《夏史论丛》 (bằng tiếng Trung văn giản thể) (中国山东济南: 中国先秦史学会编、齐鲁书社出版).  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  31. ^ 杨国勇 (1992年). ““黄炎华夏考””. 《山西大学学报》 (bằng tiếng Trung văn giản thể) (中国山西太原小店区) (第4期).  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  32. ^ 李玄伯 (1948年9月). 《中国古代社会新研》 (bằng tiếng Trung văn phồn thể). 开明书店. tr. 第110页.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  33. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k 何光岳 (1992年8月). 《夏源流史》 (bằng tiếng Trung văn giản thể). 江西教育出版社. ISBN 7-5392-1337-X.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  34. ^ a ă â b c d 司馬遷. 《史记•夏本纪》. 
  35. ^ 皇甫谧. 《帝王世紀》 (bằng tiếng Trung văn phồn thể).  Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  36. ^ sử quan Tiên Tần soạn viết. 《世本•帝系》 (bằng tiếng Trung văn phồn thể).  Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  37. ^ 司马贞. 《史記索隱》 (bằng tiếng Trung văn phồn thể).  Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  38. ^ 汉语大字典编辑委员会 (1986年10月—1990年10月). 《汉语大字典》 (bằng tiếng Trung văn phồn thể). 四川辞书出版社,湖北辞书出版社.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  39. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n 王玉哲 (2000年7月). 《中国断代史系列—中华远古史》 (bằng tiếng Trung văn giản thể). 上海人民出版社. ISBN 7-208-03283-1.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link) Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “.E7.8E.8B.E7.8E.89.E5.93.B2” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  40. ^ 何光岳 (1992年4月). 《炎黄源流史》 (bằng tiếng Trung văn giản thể). 江西教育出版社. ISBN 7-5392-1157-1.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  41. ^ a ă â b c d đ e 安金槐 (1978年—1993年). “夏”. 中国大百科全书 (bằng tiếng Trung văn giản thể). 中国大百科全书出版社.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  42. ^ 《尚书•洪范》、《国语•鲁语》.
  43. ^ a ă â 《孟子·滕文公上》.
  44. ^ a ă 《论语•宪问》.
  45. ^ 《韩非子•五蠹第四十九》.
  46. ^ 梁刚 (10月 2001年). ““涂山再考””. 《唐都学刊》 (bằng tiếng Trung văn giản thể) (中国陕西西安: 西安文理学院). 卷十七(专辑二): 第171—173页.  Chú thích sử dụng tham số |month= bị phản đối (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  47. ^ 《左传•哀公七年》杜预注文、《汉书•地理志》、《帝王 TCN》、《地理通释•十道山川考》、《大清一统志》.
  48. ^ 《逸周书•度邑》、《读史方舆纪要》、《水经注•卷十五•伊水》.
  49. ^ a ă 白寿彝 (1937年). 《中国交通史》 (bằng tiếng Trung văn phồn thể). 上海书店. tr. 第4—5页.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  50. ^ 《越绝书外传记•越地传》、《吳越春秋》.
  51. ^ a ă 朱元桂 (1995年). ““会稽涂山考””. 《浙江学刊》 (bằng tiếng Trung văn giản thể) (中国浙江杭州: 浙江省社会科学院) (第4期、总第93期): 第33—35页.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  52. ^ 《华阳国志•巴志》、《续后汉书•郡国志》刘昭注文、《水经注•卷三十三•江水》.
  53. ^ 《左传•哀公七年》.
  54. ^ 《孟子•万章》.
  55. ^ 《晋书•束皙传》dẫn từ《竹書紀年》.
  56. ^ 《韩非子•外储说右下》.
  57. ^ a ă â b c d 錢穆 (2001年7月). 《史记地名考》 (bằng tiếng Trung văn phồn thể). 商务印书馆. ISBN 7-100-03240-7.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  58. ^ 顾颉刚、刘起釪 (1979年). “《尚书•甘誓》校释译论”. 《中国史研究》 (bằng tiếng Trung văn giản thể) (第1期).  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  59. ^ 《墨子•明鬼下》、《庄子•人世间》、《吕氏春秋•召类》、《说苑•政理》.
  60. ^ 《逸周书•史记》、《尚书•书序》.
  61. ^ a ă â b c d đ e ê 蒲坚 (1999年1月). 《中国法制通史•夏商周》 (bằng tiếng Trung văn giản thể) 卷一. 法律出版社. ISBN 7-5036-2373-X.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  62. ^ 屈原. 《楚辞•天问》. 
  63. ^ 《古代汉语词典》编写组 (2003年10月). 《古代汉语词典》 (bằng tiếng Trung văn giản thể). 商务印书馆. ISBN 7-100-01549-9.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  64. ^ 清•段玉裁 (1815年). 《说文解字注》 (bằng tiếng Trung văn phồn thể).  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  65. ^ 王應麟. 《诗地理考》. 
  66. ^ 《山海经•海外西经》.
  67. ^ 《汉书•古今人表》.
  68. ^ 清•段玉裁. 《古文尚書撰異》 (bằng tiếng Trung văn phồn thể) 卷七.  Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  69. ^ 《韩非子•说疑》.
  70. ^ 裴骃,《史记集解》.
  71. ^ a ă â 《左传·襄公四年》.
  72. ^ a ă â 《左传•哀公元年》.
  73. ^ 《太平御览》引自《竹书纪年》。
  74. ^ a ă 《国语·周语》.
  75. ^ 《史记·律书》.
  76. ^ 《国语·晋语》.
  77. ^ a ă 《尚书·商书·汤誓》.
  78. ^ 《新序·刺奢》、《韩诗外传]卷二.
  79. ^ a ă 《诗经·商頌·長發》.
  80. ^ 《淮南子·修务训》.
  81. ^ 《荀子·儒效篇第八》.
  82. ^ 傅斯年 (1930年). ““新获卜辞写本后记跋””. 《安阳发掘报告》 (bằng tiếng Trung văn phồn thể) (第2期).  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  83. ^ 《史记·匈奴列传》.
  84. ^ 《括地谱》.
  85. ^ 《列子釋文》.
  86. ^ 丁山 (1935年). ““由三代都邑论其民族文化””. 《历史语言研究所集刊》 (bằng tiếng Trung văn phồn thể) (第5本).  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  87. ^ 《史记·陈杞世家》.
  88. ^ 《论语·八佾第三》、《礼记·礼运》.
  89. ^ “文物古迹” (bằng tiếng Trung văn giản thể). 中国浙江绍兴县人民政府官方网站. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2011.  Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  90. ^ “大禹祭典” (bằng tiếng Trung văn giản thể). 中华人民共和国文化部外联局中国文化网. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2010.  Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  91. ^ 郭沫若 (1930年). ““夏禹的问题””. 《中国古代社会研究》 (bằng tiếng Trung văn phồn thể): 第351页.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  92. ^ a ă 胡厚宣、胡振宇 (2003年4月). 《中国断代史系列—殷商史》 (bằng tiếng Trung văn giản thể). 上海人民出版社. tr. 第41—52页. ISBN 7-208-04584-4.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  93. ^ 程憬 (1932年). ““夏民族考””. 《大陆杂志》 (bằng tiếng Trung văn phồn thể) 卷一 (第5、6期).  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  94. ^ 《左传·定公四年》.
  95. ^ a ă â 郑杰祥 (2005年4月). 《新石器文化与夏代文明》 (bằng tiếng zh-cn). 江苏教育出版社. ISBN 7-80643-915-3.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  96. ^ 《国语•周语上》.
  97. ^ a ă 周振鹤 (1998年11月). 《中国历代行政区划的变迁》 (bằng tiếng Trung văn giản thể). 中国北京: 商务印书馆. ISBN 7-100-02424-2.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  98. ^ a ă â b 《尚书•夏书•禹貢》.[chú thích 109]
  99. ^ a ă 《墨子•耕柱》.
  100. ^ 王孝通 (1936年). 《中国商业史》 (bằng tiếng Trung văn phồn thể). 上海书店. tr. 第14页.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  101. ^ 《穆天子傳•卷五》.
  102. ^ 史念海 (1998年). 《中国古都和文化》 (bằng tiếng Trung văn giản thể). 中华书局. ISBN 7-101-01585-9.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  103. ^ 张莉 (12月 2006年). ““夏代早期都城研究””. 《二里头遗址与二里头文化研究》 (bằng tiếng Trung văn giản thể) (中国北京: 科学出版社): 第433—435页. ISBN 7-03-017833-5.  Chú thích sử dụng tham số |month= bị phản đối (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  104. ^ a ă â b c d đ e ê g 谭其骧 (1991年10月1日). 《简明中国历史地图集》 (bằng tiếng Trung văn giản thể). 中国地图出版社. ISBN 7503110155.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  105. ^ 徐旭生 (2003年). 中国古史的传说时代 (bằng tiếng Trung văn giản thể). 广西师范大学出版社. ISBN 9787563342273.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  106. ^ 佟柱臣 (1991年). ““中国夏商王国文明与方国文明试论””. 《考古》 (bằng tiếng Trung văn giản thể) (中国北京: 中国社会科学院考古研究所考古杂志社) (第11期).  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  107. ^ a ă 《世本》.
  108. ^ 方酉生 (12月 2006年). ““河南偃师二里头遗址为夏都斟鄩及相关问题讨论””. 《二里头遗址与二里头文化研究》 (bằng tiếng Trung văn giản thể) (中国北京: 科学出版社): 第29—36页. ISBN 7-03-017833-5.  Chú thích sử dụng tham số |month= bị phản đối (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  109. ^ 张春生 (2007年10月1日). 《山海经研究》 (bằng tiếng Trung văn giản thể). 上海社会科学院出版社. ISBN 9787807450719.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  110. ^ 《戰國策·魏策》.
  111. ^ 《墨子·兼爱下》、《墨子·非攻下》.
  112. ^ 何光岳 (1988年11月). 《南蛮源流史》 (bằng tiếng Trung văn giản thể). 江西教育出版社. ISBN 7-5392-0382-X.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  113. ^ 何光岳 (1990年8月). 《东夷源流史》 (bằng tiếng Trung văn giản thể). 江西教育出版社. ISBN 7-5392-0864-3.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  114. ^ 汉·司马迁,《史记·殷本纪》.
  115. ^ 《国语·鲁语》.
  116. ^ 《易经·大壮》.
  117. ^ 顏師古注文,《汉书·地理志》.
  118. ^ 《孟子·滕文公下》.
  119. ^ 何光岳 (1994年11月). 《商源流史》 (bằng tiếng Trung văn giản thể). 江西教育出版社. ISBN 7-5392-1997-1.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  120. ^ 《礼记·祭义》.
  121. ^ a ă â 《尚书·夏书·甘誓》.
  122. ^ 《礼记·明堂位》.
  123. ^ 《左传·襄公十四年》dẫn từ《尚书·夏书》。[chú thích 144]
  124. ^ a ă 《左传·昭公十七年》引自《尚书·夏书》。[chú thích 144]
  125. ^ 《左传·哀公十八年》 dẫn từ 《尚书·夏书》。
  126. ^ 周才珠、齊瑞端 译注 (2000年). 《墨子》 (bằng tiếng Trung văn phồn thể). 台灣書房出版有限公司. ISBN 9789578499522.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  127. ^ a ă 《左传·僖公二十七年》.
  128. ^ “12、大禹的贡献” (bằng tiếng Trung văn giản thể). 中国传统文化网. 6 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2011.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  129. ^ 顾炎武 (1639年). 《日知錄·卷七》.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  130. ^ 《左传·昭公六年》.
  131. ^ 《尚书·吕刑》.
  132. ^ 顾颉刚、钱玄同等 (1926年、1982年). 《古史辨》 (bằng tiếng Trung văn phồn thể) 第一册. 上海古籍出版社. tr. 第62页.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  133. ^ 《左传·昭公十四年》 dẫn từ 《尚书·夏书》。
  134. ^ 晋国《刑书》.
  135. ^ 《周礼·秋官·大司寇》.
  136. ^ 汉·應劭,《風俗通義》.
  137. ^ 《尚书·大禹謨》.
  138. ^ 《史记·集解》.
  139. ^ 高锐 (1995年8月). 《中国上古军事史》 (bằng tiếng Trung văn giản thể). 中国北京: 军事科学出版社. tr. 第24页. ISBN 978-7800218149.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  140. ^ a ă 杨胜勇 (1994年1月). 《中国远古暨三代军事史》 (bằng tiếng Trung văn giản thể). 人民出版社. ISBN 7-01-001348-9.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  141. ^ 郭妍利 (3月 2009年). ““二里头遗址出土兵器初探””. 《江汉考古》 (bằng tiếng Trung văn giản thể) (陕西西安) (第112期).  Chú thích sử dụng tham số |month= bị phản đối (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  142. ^ 南朝梁·劉昭注解晋·司马彪之《续汉书·郡国志一》引自晋·皇甫谧之《帝王世紀》。
  143. ^ a ă 葛剑雄 (2002年12月). 《中国人口史》 (bằng tiếng Trung văn giản thể) 卷一. 复旦大学出版社. ISBN 7-309-03520-8.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  144. ^ a ă 宋镇豪 (1994年9月). 《夏商社会生活史》 (bằng tiếng Trung văn giản thể). 中国社会科学出版社. ISBN 7-5004-1448-X.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  145. ^ 王育民 (1995年11月). 《中国人口史》 (bằng tiếng Trung văn giản thể). 江苏人民出版社. ISBN 7-214-01580-3.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  146. ^ 《孟子·万章上》.
  147. ^ 《戰國策·燕策一》.
  148. ^ 刘军、莫福山、吴雅芝 (1995年6月). 《中国古代的酒与钦酒》 (bằng tiếng Trung văn giản thể). 中国北京: 商务印书馆. ISBN 7-80103-020-6.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  149. ^ 《尚书·酒诰》.
  150. ^ 《吕氏春秋·勿躬》卷十七.
  151. ^ 《世本·作篇》.
  152. ^ 《礼记·玉藻》.
  153. ^ 徐海荣 (1999年10月1日). 《中国饮食史》 (bằng tiếng Trung văn giản thể). 华夏出版社. ISBN 7-5080-1958-X.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  154. ^ 林乃桑 (1991年11月). 《中国古代饮食文化》 (bằng tiếng Trung văn giản thể). 中共中央党校出版社. ISBN 7-5035-0484-6.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  155. ^ 刘军茹 (2004年12月1日). 《中国饮食》 (bằng tiếng Trung văn giản thể). 五洲传播出版社. ISBN 7-5085-0541-7.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  156. ^ 《韩非子·十过》.
  157. ^ 《左传·定公四年》.
  158. ^ 《越绝书·卷十一》.
  159. ^ a ă 张书光 (1990年8月). 中国历代服装资料 (bằng tiếng Trung văn giản thể). 安徽美术出版社. tr. 第9—10页. ISBN 7-5398-0141-7.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  160. ^ 高春明 (1997年3月). 《中国古代的平民服装》 (bằng tiếng Trung văn giản thể). 商务印书馆. ISBN 7-80103-083-4.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  161. ^ 卫斯 (1985年). ““我国栽桑育蚕起始时代初探””. 《农史研究》 (bằng tiếng Trung văn giản thể) (农业出版社) (第六辑).  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  162. ^ a ă 《大戴礼记·夏小正》.
  163. ^ a ă â b 李松 (2000年12月). 《中国美术史·夏商周卷》 (bằng tiếng Trung văn phồn thể). 中国济南: 齐鲁书社、明天出版社. ISBN 7-5333-0470-5.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  164. ^ 《盐铁论·错币第四》.
  165. ^ a ă â b c 冯广宏. ““大禹三考””. 《四川文物》 (bằng tiếng Trung văn giản thể) (四川省水利研究所).  Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  166. ^ 中国公路交通史编审委员会 (1994年1月). 《中国古代道路交通史》 (bằng tiếng Trung văn giản thể). 人民交通出版社. tr. 第3—7页. ISBN 7-114-01733-2.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  167. ^ 徐良高 (2004年9月). ““夏商周三代城市聚落研究””. 《三代考古》 (bằng tiếng Trung văn giản thể) (中国北京: 科学出版社) 第一册: 第38—39页. ISBN 7-03-014010-9.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  168. ^ a ă 许宏 (2009年8月). 《最早的中国》 (bằng tiếng Trung văn giản thể). 中国北京: 科学出版社. ISBN 7208074232.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  169. ^ a ă â b c 中国社会科学院考古研究所 (1999年). 《偃师二里头1959年~1978年考古发掘报告》 (bằng tiếng zh-cn). 中国北京: 中国大百科全书出版社. ISBN 7-5000-6197-8.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link) Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “.E5.81.83.E5.B8.88.E4.BA.8C.E9.87.8C.E5.A4.B4.E8.80.83.E5.8F.A4.E5.8F.91.E6.8E.98.E6.8A.A5.E5.91.8A” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  170. ^ 幸晓峰 (2001年). ““试论南音之始‘候人兮猗’””. 《音乐探索》 (bằng tiếng Trung văn giản thể) (四川音乐学院) (第3期).  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  171. ^ Tả truyện·Tương công nhị thập cửu niên.
  172. ^ 郭丹 (2005年). 《中国古代文学史专题》 (bằng tiếng Trung văn giản thể). 学林出版社. tr. 第1页. ISBN 7806685006.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  173. ^ 吴迪 (1994年11月). 《中国古代文学史》 (bằng tiếng Trung văn giản thể). 中国北京: 中国电影出版社. tr. 第3页. ISBN 7-106-01015-4.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  174. ^ 伊东忠太 著、陈清泉 译. 《中国建筑史》 (bằng tiếng Trung văn phồn thể). 上海书店. tr. 第89页.  Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  175. ^ 《左传》杜预 注文、《墨子·非儒下》、《荀子·解蔽》、《吕氏春秋·君守》、《世本·作篇》、《管于》.
  176. ^ a ă 舒韶雄 (3月 2003年). ““中国古代车与马之关系””. 《湖北广播电视大学学报》 (bằng tiếng Trung văn giản thể) (湖北黄石) 卷二十 (第1期).  Chú thích sử dụng tham số |month= bị phản đối (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  177. ^ 《世本·作篇》.
  178. ^ 中国航海学会 (1988年12月). 《中国航海史(古代航海史)》 (bằng tiếng Trung văn giản thể). 人民交通出版社. ISBN 7-114-00407-9.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  179. ^ 陈遵妫 (1955年). 《中国古代天文学简史》 (bằng tiếng Trung văn phồn thể). 上海人民出版社. tr. 第54—55页.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  180. ^ 宋·《太平御览·卷七》 dẫn từ《孝经钩命诀》.
  181. ^ 张富祥 (2005年). ““关于夏代积年与‘五星聚’””. 《管子学刊》 (bằng tiếng Trung văn giản thể) (山东淄博张店区: 山东理工大学齐文化研究院) (第3期).  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  182. ^ Foster, K.P.,Ritner, R.K., Foster, B.R. (1996). ““Texts, Storms, and the Thera Eruption””. Journal of Near Eastern Studies 55 (1): 1–14. doi:10.1086/373781. 
  183. ^ 《论语·卫灵公》.
  184. ^ a ă â 史仲文、胡晓林 主编 (1994年). 《百卷本中国全史·远古暨三代宗教史》 (bằng tiếng Trung văn giản thể) 卷五. 人民出版社. ISBN 9787010014562.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  185. ^ 王巍 (2004年9月). ““近年来夏商周考古学研究的主要进展””. 《三代考古》 (bằng tiếng zh-cn) (中国北京: 科学出版社) 第一册: 第19—20页. ISBN 7-03-014010-9.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  186. ^ 杜金鹏 (2005年). ““二里头遗址宫殿建筑基址初步研究””. 《考古学集刊》 (bằng tiếng Trung văn giản thể) (文物出版社) (第16集).  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  187. ^ 《左传·哀公十八年》 dẫn từ 《尚书·夏书》。[chú thích 144]
  188. ^ 《山海经•海内经第十八》.
  189. ^ 《今本竹書紀年》.
  190. ^ a ă 汉•王符,《潜夫论•五德志》.
  191. ^ a ă 《墨子•節用下》.
  192. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ 梁沈约 (1936年). 《竹书纪年集解》 (bằng tiếng Trung văn phồn thể). 广益书局.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  193. ^ a ă â b 《太平御览》卷八二皇王部.
  194. ^ a ă â b c d đ e ê g h i 章嶔. 《中華通史》 (bằng tiếng Trung văn phồn thể) 第一冊.  Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  195. ^ 劉恕,《资治通鉴外记》、鄭樵,《通志》.
  196. ^ 王国维. 《今本竹書紀年疏證》 (bằng tiếng Trung văn phồn thể).  Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  197. ^ 方诗铭、王修龄 (2005年10月). 《古本竹书纪年辑证》 (bằng tiếng Trung văn giản thể). 上海古籍出版社. ISBN 9787532541911.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
Ghi chú
  1. ^ a ă â b có thuyết nói 13 đời, 16 vua, sai biệt là ở chỗ định Vũ là quân chủ hay thủ lĩnh liên minh bộ lạc. Những người ủng hộ việc xác định Vũ là quân chủ cho rằng sách sử có ghi rằng Thuấn chết, Vũ để tang ba năm rồi xưng đế. Những người ủng hộ việc xác định Vũ là thủ lĩnh liên minh bộ lạc nói rằng Khải chiêu tập thủ lĩnh các bộ lạc xung quanh đến Quân Đài, đánh dấu việc Khải thông qua thế tập mà đoạt được quyền vị, đến đó xưng bá Trung Nguyên, bắt đầu vương triều thế tập Trung Quốc, cho nên triều Hạ bắt đầu từ Khải. "Đế vương thế kỷ" thì ghi 19 vương, có thêm Nghệ và Hàn Trác.
  2. ^ a ă Liên quan đến vấn đề số năm tồn tại của triều Hạ, chủ yếu có 5 thuyết. Có thuyết cho là 470 năm, hay 471 năm, tức là theo "Trúc thư kỉ niên thể hệ" cổ bản, đây là quan điểm đa số. Lại có thuyết cho là 431 năm, hay 432 năm, căn cứ theo "Trúc thư kỉ niên thể hệ" kim bản hay "Nho gia kim bản", đây là quan điểm phổ biến thứ hai. Thuyết thứ ba thì cho là 440 năm[tham 12]. Thuyết thứ tư cho là 458 năm, hay 459 năm[tham 13]. Thuyết thứ năm cho là 483 năm[tham 14]. Hai thuyết đầu tiên có sự khác biệt là do tính hay không tính thời kỳ "vô vương" kéo dài 40 năm khi Hậu Nghệ và Hàn Trác đoạt quyền.[tham 15]. Cũng có giải thích rằng người thời trước tính từ khi Thuấn bắt đầu cai trị, còn người đời sau tính từ năm Hạ Vũ thứ nhất.[tham 16]
  3. ^ a ă Cổ bản Trúc thư kỉ niên: 自禹至桀十七世,有王與無王,用歲四百七十一年。起壬子,终壬戌。(Từ Vũ đến Kiệt 17 đời, có vương và không vương, trải qua 471 năm. Bắt đầu từ năm Nhâm Tý, kết thúc vào năm Nhâm Tuất)[tham 2][tham 3]
  4. ^ Liên quan đến niên đại hưng vong của triều Hạ, có nhiều thuyết suy tính. Hạ Thương chu niên biểu do Hạ Thương Chu đoạn đại công trình công bố ước tính là khoảng 2070 TCN- khoảng 1600 TCN, tồn tại trên dưới 470 năm[tham 1]; cổ bản Trúc thư kỉ niên" ghi rằng vận nước triều Hạ là 471 năm[chú thích 2], suy tính là 1989 TCN─1559 TCN.[chú thích 3]
  5. ^ Liên quan đến câu "Man Di hoạt Hạ", có hai thuyết giải thích: Một thuyết cho rằng "Hoạt Hạ" tức là "Hoa Hạ", "Man Di" tương ứng với "Hoạt Hạ", hai bên vào thời kỳ Nghiêu Thuấn đều bị người Trung Nguyên xem là người Man ngoại tộc, giống như một chủng "khấu tặc gian quỹ". Từ "Hoa Hạ" sau khi triều Hạ được kiến lập thì mới chuyển từ chê thành khen. Có thuyết nói chữ "hoạt" là động từ, có nghĩa là xâm loạn, vào thời viễn cổ tộc Hạ và Man Di ngoại tộc tạp cư, do vậy Man Di loạn Hạ, "khấu tặc gian quỹ" không chuyện ác nào không làm.
  6. ^ hai chữ "Hoa", "Hạ" hiện nay có âm đọc tương đồng trong các phương ngữ như tiếng Ngô, các nhà ngôn ngữ học do vậy ước đoán rằng hai chữ này vào thời cổ là đồng âm đồng nghĩa. Chữ "Hạ" xuất hiện sớm nhất trong "Thượng thư- Nghiêu điểu": "Đế viết: 'Cao Dao Man Di Hoạt Hạ, khấu tặc gian quỹ[chú thích 5], nhữ tác sĩ.'"[tham 17]
  7. ^
    ① "Hạ" giống như "người Trung Quốc). "Thuyết văn giải tự" Thanh•Trần Xương Trị khắc bản chữ “夏”) "Hạ, giống người Trung Quốc; từ dáng đi chậm, từ cái đầu, từ cái cối, cái cối hai tay, dáng đi chậm bằng hai chân."[tham 19]
    ② "Hạ" giống với dáng múa. "Hạ, khi múa, cái cối tượng trưng cho dáng tay người múa, dáng đi chậm tượng trưng cho dáng chân người múa."[tham 20]
    ③ "Hạ" tượng trưng cho Đại Vũ trị thủy. “从臼,手有所持也,从夊,足有所躧也。象农夫之夏日治畦也;夏者,禹有天下之号也。象神禹之八年治水也。”[tham 21]
    ④ "Hạ" tượng trưng cho vật tổ là côn trùng. Trong các bốc từ Ân Khư có các giáp cốt văn nghi là chữ "Hạ" như (giáp cốt văn thứ nhất nghi là chữ "Hạ"), (giáp cốt văn thứ hai nghi là chữ "Hạ"), (giáp cốt văn thứ ba nghi là chữ "Hạ"). Có thuyết nói là tượng trưng cho ve sầu, "đồng thời giống với hình râu đầu và chân cánh, ve sầu là côn trùng mùa hạ, nghe tiếng kêu của nó thì biết là mùa hạ, vì thế mà người hiền trí thời xưa mượn hình con ve sầu để biểu thị.”[tham 22]. Tuy nhiên, lại có thuyết cho là giống với thủy trùng, "truyền thuyết dân tộc Hạ, lấy Vũ là tông thần, lấy Ký là đất sinh tức, Vũ Ký cũng tức là đông tây nhất thuộc long xà quy mãnh, do đó cho tộc mình là con cháu của côn trùng, cùng với nhà Hán tự cho mình là giống rồng, tác dụng toàn đồng. Từ xét đoán qua hệ thống văn tự thì nhất định đó là quái trùng sống trong nước."[tham 23]
    ⑤ "Hạ" lấy từ tên sông Hạ Thủy. "Tên gọi Hạ, thực ra là từ Hạ Thủy mà thành... đất đai ở tại vùng Ung Lương, lấy sông làm tộc danh, như người họ Cơ là sinh ở chỗ Cơ Thủy, người họ Khương là sinh ở chỗ Khương Thủy."[tham 24]
    ⑥ "Hạ" có nguồn gốc từ nhà làm bằng đá. Người giữ quan điểm này cho rằng chữ "Hạ" ngày nay có nghĩa khác với chữ "Hạ" thời cổ, chữ "Hạ" có hai cách dùng là "mùa hạ" và "dân tộc Hạ", hiện nay hai nghĩa có cách viết giống nhau, song khi nghiên cứu trong bốc từ và kim văn vào tảo kỳ thượng cổ, có thể thấy sự khác biệt, ứng với hai chữ vào thời kỳ viễn cổ. Chữ "Hạ" có nghĩa là mùa hạ trong giáp cốt bốc từ có hình giống con ve sầu, do ve sầu kêu không ngừng tại bình nguyên Hoa Bắc trong mùa hè, nghe tiếng ve sầu kêu là biết mùa hè đến. Chữ "Hạ" có nghĩa là dân tộc Hạ (Chữ "Hạ" trong kim văn) trong kim văn, hay hình thể trong triện văn ("Chữ "Hạ" thể triện) giống với phòng ốc. "Chiêu Hồn" của Tống Ngọc viết "các hữu đột hạ", Vương Dật giải nghĩa "đột tức là phục ốc, hạ tức là đại ốc, đều được gọi là hạ". Thuyết văn" nói "Hạ tự, tòng hảm", hạ thanh. Quảng giả, nhân quảng vi ốc, kỳ tự tòng hàm", cũng có "nhân quảng vi ốc, tượng đối lạt cao ốc chi hình", dùng các hang động làm thành nhà rộng, tức nhà đá.[tham 25]
    ⑦ "Hạ" tượng trưng cho ếch nhái. Trong số đồ gốm màu loại hình Bán Sơn, Mã Xưởng khoảng 2500 năm trước, có hoa văn chủ thể là hình ếch nhái đầu tròn, thân thẳng, tư thế hai tay đưa lên, hai chân có tư thế nhảy kiểm ngồi xổm (Hoa văn đồ gốm hình ếch nhái), là tiền thân của chữ "Hạ". Sau đó, tại vùng tiếp giáp giữa Cam Túc và đông bộ Thanh Hải xuất hiện "hoa văn ếch nhái giản hóa" đầu tròn lớn, thân nhỏ, không chân, nhảy chỉ với hai chi trên (Oa văn giản hóa), được cho là mô tả con của động vật thủy sinh, tiền thân của chữ "tử" trong kim văn (chữ tử trong kim văn).[tham 26][tham 27]
    ⑧ "Hạ" chỉ phương tây. Trong biểu tự tên người ở thời kỳ thượng cổ, nhièu khi có hiện tượng hai chữ "Hạ" và "Tây" tương phối, như Công tôn Hạ nước Trịnh có tự là Tử Tây, công tử Thiếu Tây nước Trần có tự là Hạ. Do vậy, có nghi ngờ rằng vào thời viễn cổ thì hai chữ "Hạ" và "Tây" đồng nghĩa.[tham 28][tham 29]
    ⑨ Chữ "Hạ" huấn độc là “Đại”. Dương Quốc Dũng cho rằng so với các dân tộc xung quanh thì tộc Hạ có đông nhân khẩu, kinh tế phát đạt, vũ lực cường thịnh, văn hóa tiên tiến, do vậy được các dân tộc xung quanh gọi là "Hạ tộc" (tức tộc người lớn), vùng đất họ cư trú được gọi là "Hạ địa" (tức vùng đất lớn).[tham 30][tham 31]
    ⑩ "Hạ" là vật tổ mang hình tượng loài thú giống hình dạng của người như mi hầu. Chữ "Hạ" trong kim văn (chữ "Hạ" trong kim văn thời Tây Chu) giống như hình người, song bên trong bao gồm nét hình dạng của thú, từ dáng đi hay đầu, cũng như chân tay. Vùng đất phát nguyên của tộc Hạ là Mân Sơn vào thời viễn cổ có nhiều khỉ, người Hạ cũng thấy được bản năng tự nhiên của khí giống với người, liền tạo thành hình dạng chúng tạo ra chữ "Hạ" để làm vật tổ,[tham 32]
  8. ^ Hà Quang Nhạc tổng kết các ý kiến bình luận và bác bỏ về các hệ thống thuyết pháp khác nhau ở trên [tham 33]:
    ① Phe ủng hộ nhận định nhân dân thời viễn cổ hết sức mê tín, bài xích ngoại tộc, việc có cái nhìn thù địch và xem họ là ác ma quái thú khác biệt với nhân loại là điều có lý, lại thêm tiền lệ như tộc Cửu Lê của Xi Vưu làm chứng; phe phản đối cho rằng nếu nói chữ "Hạ" tượng trưng cho người Trung Quốc, có hai tay hai chân, thì chẳng lẽ số tay chân của người ngoại quốc và người Trung Quốc có khác biệt? "Thuyết văn giải tự" là tác phẩm thời Đông Hán, nhiều chữ trong đó đã có cả nghìn năm lịch sử, khó mà có thể khảo chứng ý nghĩa ban đầu khi chữ đó được tạo thành, giải nghĩa trong tác phẩm có khả năng là theo suy nghĩ chủ quan của người thời Hán. Mặc dù người thời cổ bài xích ngoại tộc, song việc xem họ là các loại thú trong những câu truyện thần thoại truyền thuyết thực ra là do người đời sau phóng đại mà thành.[tham 22]
    ② Không phải chỉ có người Hạ mới biết múa, cũng không phải là thứ người Trung Quốc đặc biệt giỏi, lý lẽ của thuyết pháp này yếu, khó mà khiến người ta thấy thuyết phục.
    ③ Chữ "Hạ" có hình dạng giống với người, song việc tưởng tượng rằng chữ "cữu" là một công cụ trị thủy thì là điều khiên cưỡng, khó mà khiến người ta tin phục.
    ④ Truyền thuyết liên quan đến việc Cổn và Vũ xuất sinh phần nhiều có tương quan đến ngư long, song các truyền thuyết này chủ yếu là cố sự do người sau thời Lưỡng Hán nghĩ ra để bổ sung cho phần còn thiếu sót trong lịch sử, không có căn cứ lịch sử xã hội học, chỉ đơn thuần là truyền thuyết của hậu thế, khó mà khiến người ta tin. Trong số bốc từ giáp cốt văn không phát hiện được chữ "Hạ" khiến người ta tín phục, không thể khẳng định được chữ có hình dạng giống con ve sầu là chữ "Hạ", nên cũng không thể dùng để luận chứng ý nghĩa của chữ "Hạ". Hơn nữa, giữa thời Thương Chu chỉ phân biệt hai mùa xuân và thu, không có nói gì về hạ đông, vậy người thời Hạ sao mà có thể nghe tiếng ve sầu kêu mà biết hạ đến?
    ⑤ Hạ bắt nguồn từ Hạ Thủy, song Hạ Thủy lấy tên từ đâu, vấn đề tên gọi chưa được giải quyết.
    ⑥ Từ giáp cốt văn trong "bốc từ", không phát hiện được chữ Hạ có hình dạng giống với nhà đá, mà chữ Hạ giống hình ve sầu thì lại khác biệt so với trong kim văn, triện văn.
    ⑦ Việc cho rằng chữ "Hạ" là ếch nhái khó thuyết phục vì hình dạng khác biệt.
    ⑧ Giả sử vào thời viễn cổ hai âm "Hạ" và "Tây" có thể thay thế cho nhau, không rõ giới hạn trong tên người hay tên chữ, chỉ là suy đoán.
    ⑨ Phía phản đối cho rằng những chữ đọc giống nhau thì hình dạng cũng cần giống nhau, song ở đây thực tế là không như vậy; phe ủng hộ cho rằng hai chữ "Hạ" và "Đại" có thời gian hình thành vào thời viễn cổ, chọn dùng cách theo hình tượng để tạo chữ, việc chữ có âm giống song hình khác là khá nhiều.
    ⑩ Bộ tộc viễn cổ lấy vật tổ làm phù hiệu đại diện, phần nhiều sử dụng loài chim thú có tính cách mà bộ tộc sùng bái hoặc gần giống với bộ tộc. Vùng đất phát nguyên của tộc Hạ là Mân Sơn có nhiều khỉ, khỉ có tính cách thông minh giống người, do vậy người Hạ tôn khỉ làm vật tổ, đồng thời khắc thành văn tự.
  9. ^ 有男氏, cũng viết là 有南氏.[tham 33]
  10. ^ 費氏, còn viết là Phất thị (弗氏)
  11. ^ ghi khác là Châm Qua thị (斟戈氏), Châm Quan thị (斟觀氏).
  12. ^ Chuyên Húc là con của Xương Ý. Xương Ý lại là con của Hoàng Đế
  13. ^ a ă Có thuyết nói Cổn là cháu năm đời của Chuyên Húc. Hoàng Phủ Mật soạn "Đế vương thế kỷ" cùng với "Thế bản-Đế hệ" đều nhận định rằng Cổn là con của Chuyên Húc, song "Hán thư-Luật lịch chí" chép rằng "Đế hệ Chuyên Húc ngũ đại nhi sinh Cổn", "Sử ký sách ẩn" của Tư Mã Trinh nhận định rằng thuyết pháp của Hán thư khá khả tín.[tham 35][tham 36][tham 37]
  14. ^ a ă phồn: 「-{崇}-」,giản: 「-{崇}-」,bính âm: Sōng,chú âm: ㄙㄨㄥ,âm giống 「嵩」[tham 38], viết khác là Tung Sơn (崇山), Hữu Tung (有崇).[tham 39]
  15. ^ Tung Sơn (嵩山) có tên cổ là “崇山”, cũng gọi là “嵩高”、“崇高”、“狄山”、“崧山”、“嵩高山”、“崇高山”.[tham 40]
  16. ^ có thuyết nói rằng bị lưu đày ở Vũ Sơn, không lâu sau thì mất.[tham 33]
  17. ^ a ă Về vị trí của Đồ Sơn, có bốn thuyết[tham 46], theo tương truyền tức là Đồ Sơn trong địa phận huyện Hoài Viễn thuộc tỉnh An Huy hiện nay[tham 47], một thuyết khác nói rằng là Tam Đồ Sơn thuộc địa phận huyện Tung thuộc tỉnh Hà Nam hiện nay[tham 48][tham 49], thuyết thứ ba thì nói rằng là Dư Sơn ở phía bắc khu Tiêu Sơn của Hàng Châu, Chiết Giang[tham 50][tham 51], thuyết thứ 4 thì cho là Đồ Sơn trong địa phận Trùng Khánh.[tham 52]
  18. ^ Đương thời, các bộ lạc tại Trung Nguyên và Tam Miêu đấu tranh liên miên.
  19. ^ phồn: 「-{會稽}-」,giản: 「-{会稽}-」,bính âm: Kuàijī,chú âm: ㄎㄨㄞˋ ㄐㄧ,âm giống 「快机」, một thuyết dựa theo âm đọc tiếng Ngô bản địa mà cho là Khoái Cơ bính âm: Guìjī,chú âm: ㄍㄨㄟˋ ㄐㄧ,âm giống 「桂机」, có ý là "tập hợp".
  20. ^ Tương truyền nay là phụ cận Thiệu Hưng thuộc tỉnh Chiết Giang.[tham 51]
  21. ^ còn viết là “伯益”, Đại Phí “大费”, Bá Ế “伯翳”, Bách Ế “柏翳”. Có thuyết nói là con của Cao Dao.
  22. ^ Không theo Ích mà theo Khải (不归益而归启.)[tham 54]
  23. ^ Ích vu Khải vị, Khải sát chi (益于启位,启杀之.)[tham 55]
  24. ^ Khải dữ hữu đảng công Ích nhi đoạt thiên hạ (“启与友党攻益而夺之天下。”)[tham 56]
  25. ^ tức "gia quốc", nghĩa là thiên hạ nằm trong quyền sở hữu của một nhà.
  26. ^ phồn: 「-{鄠}-」,giản: 「-{鄠}-」,bính âm: Hù,chú âm: ㄏㄨˋ,âm giống 「户」
  27. ^ 户县, tên cũ là “鄠县”.[chú thích 26]
  28. ^ a ă â b Không rõ vị trí của Hữu Hỗ thị và "Cam", việc này từ cổ không được nói rõ ràng. Quan điểm truyền thống cho rằng đất Hỗ tại khu vực bình nguyên Quan Trung của tỉnh Thiểm Tây ngày nay, thậm chí còn đề xuất cụ thể hơn là huyện Hộ[chú thích 27] của Tây An ngày nay, đồng thời nói "Cam" nằm tại Nam Giao tại đó[tham 57]. Trong "Tả truyện", "Hỗ" (扈) và "Cố" (雇) có thể dùng thay cho nhau, "Cố" thấy trong giáp cốt bốc từ Ân Khư thời vãn Thương tại An Dương của Hà Nam, nằm không xa bằng Thiểm Tây, với kinh đô của Khải là Dương Trạch (tương truyền nay thuộc Vũ Châu, Hứa Xương) thì có cự ly vừa phải. Trận chiến Cam diễn ra ngay lúc triều Hạ mới kiến lập, cả Hữu Hỗ thị và Hạ quân Khải đều chưa chuẩn bị đẩy đủ điều kiện cho việc tác chiến xa như vậy. Quan điểm khá thích hợp hiện nay cho rằng hai xứ "Hỗ" và "Cam" nằm ở xa kinh đô của Khải, Hỗ/Cố nằm tại khu vực Nguyên Dương, Tân Hương ngày nay, còn "Cam" nằm tại tây nam Lạc Dương hiện nay.[tham 58]
  29. ^ Ghi chép sớm nhất đề cập đến chiến đấu giữa Hữu Hỗ thị và Hạ hậu thị thấy trong "Thượng thư-Cam thệ", tuy nhiên nội dung không chỉ rõ "Hạ vương" là vị nào. Trong các văn hiến sau này, nội dung trình bày bất nhất, hoặc là Vũ[tham 59] hoặc là Khải[tham 60] Có khả năng cổ nhân viết nét chữ của "Cam thệ" và "Vũ thệ" giống nhau, hoặc có khả năng hai đời Vũ và Khải đều từng chinh thảo qua Hữu Hỗ thị.[tham 61]
  30. ^ “mục thụ”, nô lệ chăn nuôi gia súc.
  31. ^ Hữu Hỗ mục thụ, vân hà nhi phùng (“有扈牧竖,云何而逢?”)[tham 62]
  32. ^ tức "Hạ thị". Thời kỳ Thượng Cổ, nhân danh, thị danh, tính danh, hay tộc danh phần nhiều là từ đơn, nhưng hậu nhân đổi sang tập quán tên hai từ, do vậy phía trước thêm chữ "Hữu" làm trợ từ, chữ "Hữu" hoàn toàn không có ý nghĩa thực tế.[tham 63]
  33. ^ Ngoài ra, người thời Chu sùng thượng triều Hạ, cho rằng có duyên với Hạ, tự xưng "Hữu Hạ", hoàn toàn không phải là gọi vua Hạ.
  34. ^ hai chữ “夏” trong tiếng Hán thượng cổ "Hồ nhã thiết, cổ âm tại ngũ bộ"[tham 64], ước đoán đọc là *ha.[tham 29]
  35. ^ "Cư" thời Thượng Cổ có hai chữ: (居2.png) hàm nghĩa là vỗ về nuôi nấng, sinh sản, đồng nghĩa với "dục" (毓). thời Trung Cổ nghĩa là nuôi dưỡng, để dành (như trong 《汉书•张汤传》:“居物致富”); (居.png) hãm nghĩ là ngồi, cư trú, dừng lại, chiếm hữu, ý nghĩa giống như hiện nay.[tham 39]
  36. ^ Trong văn hiến thời kỳ từ Thượng Cổ đến Tần-Hán, khi truy thuật về quân chủ Hạ-Thương thì thường gọi là "hậu". Để gọi thay cho "Hạ hậu thị", hiện có "Hạ triều", và ít thấy hơn là "Hữu Hạ thị"[chú thích 32] Đây là những tôn hiệu thị tộc cải biến theo hướng tăng trung tính[chú thích 33]. Dương Khoan nhận định hai chữ "Hạ hậu" trong "Hạ hậu thị" thực tế là một liên từ, do vậy không thể xuất hiện tình huống "Hữu Hạ thị" này. Cũng do vào thời Thượng Cổ, chữ "Hạ" và chữ "Hạ" (下, nghĩa là dưới) đồng âm[chú thích 34], có hoài nghi rằng "夏后" và "下后" tương đồng, "Hạ hậu" dưới mặt đất đối ứng với "Thượng đế" trên trời[tham 29]. Trong bốc từ giáp cốt văn, chữ "hậu"(后)là ngoa khắc của chữ "cư/居" (居2.png)[chú thích 35], chữ "cư" lại là giản hóa của chữ "dục/毓" (毓.png), "dục" bao hàm nghĩa sinh sản nuôi dưỡng, dùng cách xưng hô "hậu" đối với quân chủ là dấu tích còn lại của xã hội mẫu hệ thời viễn cổ. Kỳ thực, do đến nay vẫn chưa phát hiện được văn tự của người triều Hạ, các xưng hô thực tế đối với quân chủ Hạ tộc tạm vẫn không có cách nào khảo chứng.[tham 39]
  37. ^ còn viết khác là "Hạ đài", "đại đài".
  38. ^ a ă tương truyền nay thuộc phía nam Vũ Châu của Hà Nam[tham 57]
  39. ^ Không rõ vị trí cụ thể hiện nay.
  40. ^ Cái lọng xe của vua kết từ lông vũ.
  41. ^ đồ trang sức hình nửa tròn làm từ ngọc.
  42. ^ viết là 九招 hay 九韶.
  43. ^ “昆弟五人号五观。”[tham 67]
  44. ^ "Mặc Tử" viết rằng "Vũ Quan" nghi là tên sách, không phải tên người. "Sử ký-Hạ bản kỉ" chép rằng Khải có "ngũ tử", thời Thái Khang mất nước tại bờ bắc Lạc Hà họ theo trưởng huynh Thái Khang, sáng tác "Ngũ tử chi ca" để biểu thị chí hối cải. Người thời Hán lại đặt cho "Ngũ tử" hiệu "Ngũ Quan"[chú thích 43], nghi là kết quả của việc hậu nhân lấy liên hệ giữa "Vũ Quan" với "Ngũ Quan", "Ngũ tử" trong "Mặc Tử".[tham 68]
  45. ^ phồn: 「-{羿}-」,giản: 「-{羿}-」,bính âm: Yì,chú âm: ㄧˋ,âm giống 「易」
  46. ^ nhân danh là "Nghệ", tôn xưng là "Hậu Nghệ", chữ "Hậu" này đối xứng với "Hậu" trong "Hạ hậu", là xưng hiệu tôn quý của thủ lĩnh liên minh bộ lạc. Khác với Hậu Nghệ trong thần thoại thời kỳ Đường Nghiêu
  47. ^ tương truyền nay ở phía nam của Lạc Dương, Hà Nam.
  48. ^ còn viết là Hữu Khung.
  49. ^ “因夏民以代夏政。”[tham 71]
  50. ^ a ă â phồn: 「-{斟鄩}-」,giản: 「-{斟寻阝、斟寻}-」,bính âm: Zhēnxún,chú âm: ㄓㄣ ㄒㄩㄣˊ,âm giống 「真寻」
  51. ^ còn viết là "Dận hầu"
  52. ^ còn lại trong "Thượng thư-Hạ thư-Dận chinh", nguyên văn đã thất truyền.
  53. ^ a ă phồn: 「-{鉏}-」,giản: 「-{钅且}-」,bính âm: Xú,chú âm: ㄒㄩˊ,âm giống 「徐」 của Đông Di dời đến đất Cùng Thạch[chú thích 47] của Hạ hậu thị, thông hôn với người Hạ bản địa, hình thành nên Hữu Cùng thị[chú thích 48] Dưới sự ủng hộ của dân Hạ, Nghệ đoạt lấy Hạ chính,[chú thích 49] Thái Khang sau đó chạy đến Châm Tầm[chú thích 50] thuộc Châm Tầm thị. Sau khi Nghệ đoạt được quyền vị, ông không xưng vương mà lập em của Thái Khang là Trung Khang làm vương, song quốc sự trên thực tế đều do Nghệ trị lý. Việc này khiến cho không ít bộ lạc bất mãn, trong đó Hòa thị và Hi thị công khai phản đối, họ đồng thời cũng có nhiệm vụ chủ trì hoạt động quan sát các hiện tượng thiên nhiên. Nghệ nói họ phế thời loạn nhật, phái Dận[chú thích 51] suất binh thảo phạt hai thị tộc Hi và Hòa, trước khi chiến cử hành lời thệ sư "Dận chinh"[chú thích 52], giành chiến thắng trong trận chiến.[tham 34]
  54. ^ gọi chung là "nhị Châm".
  55. ^ phồn: 「-{寒浞}-」,giản: 「-{寒浞}-」,bính âm: Hánzhuó,chú âm: ㄏㄢˊ ㄓㄨㄛˊ,âm giống 「含浊」
  56. ^ có thuyết ghi rằng Hán Trác được phong làm tướng[tham 11]
  57. ^ phồn: 「-{豷}-」,giản: 「-{豷}-」,bính âm: Yì,chú âm: ㄧˋ,âm giống 「易」
  58. ^ a ă Kiêu còn có tên là Ngạo
  59. ^ tại khu vực trung bộ Hà Nam.
  60. ^ tương truyền nay ở tây bắc Lai Châu của Sơn Đông.
  61. ^ có thuyết cho là phi tử,
  62. ^ phồn: 「-{緡}-」,giản: 「-{缗}-」,bính âm: Hūn,chú âm: ㄏㄨㄣ,âm giống 「婚」
  63. ^ còn viết là “Hậu Hôn”.
  64. ^ còn viết là "Hữu Nhâm thị", vào thời Thượng Cổ, chữ Nhâm “任” và chữ Nhưng “仍” có thể thay thế nhau.
  65. ^ tương truyền nay thuộc huyện Kim Hương của Sơn Đông[tham 41][tham 57]. Thuyết khác cho là nay thuộc huyện Nhâm của Hà Bắc.[tham 39]
  66. ^ a ă â b c d đ Thái Khang, Trung Khang, Thiếu Khang đều tên là "Khang", để tránh hỗn hào, hậu nhân chú thêm vào để phân bậc.[tham 39]
  67. ^ chức vị quản lý việc chăn nuôi gia súc
  68. ^ chức vị quản lý ẩm thực
  69. ^ a ă â cũng viết là “Bá Tư”.
  70. ^ gọi chung là "nhị Diêu"[tham 72]
  71. ^ Đỗ Dự chú giải:“vuông mười dặm là (một) thành, năm trăm người là (một) lữ".
  72. ^ a ă “有田一成,有众一旅。”[tham 72]
  73. ^ a ă â “Luân” còn viết là “Luân Ấp”.
  74. ^ tương truyền nay thuộc tây bộ huyện Ngu Thành, Hà Nam.[tham 33]
  75. ^ còn viết là “Bá Mĩ”.
  76. ^ a ă â tương truyền nay thuộc phụ cận Đức Châu, Sơn Đông.[tham 11]
  77. ^ phồn: 「-{杼}-」,giản: 「-{杼}-」,bính âm: Zhù,chú âm: ㄓㄨˋ,âm giống 「注」
  78. ^ có thuyết cho rằng nay thuộc Tế Nguyên, Hà Nam.
  79. ^ tương truyền nay thuộc trấn Trần Lưu, huyện Khai Phong, Hà Nam.
  80. ^ phồn: 「-{不降}-」,giản: 「-{不降}-」,bính âm: Bújiàng,chú âm: ㄅㄨˊ ㄐㄧㄤˋ.
  81. ^ “不降即位……六年,伐九苑。”[tham 73]
  82. ^ phồn: 「-{扃}-」,giản: 「-{扃}-」,bính âm: Jiōng,chú âm: ㄐㄩㄥ
  83. ^ phồn: 「-{廑}-」,giản: 「-{廑}-」,bính âm: Jǐn,chú âm: ㄐㄧㄣˇ,âm giống 「紧」. Quốc ngữ Đài Loan:bính âm: Jìn,chú âm: ㄐㄧㄣˋ,âm giống 「晉」
  84. ^ “帝孔甲立,好方鬼神,事淫乱。夏后氏德衰,诸侯畔之。”[tham 34]
  85. ^ “孔甲乱夏,四世而陨。”[tham 74]
  86. ^ phồn: 「-{皋}-」,giản: 「-{皋}-」,bính âm: Gāo,chú âm: ㄍㄠ,âm giống 「高」
  87. ^ phồn: 「-{發}-」,giản: 「-{发}-」,bính âm: Fā,chú âm: ㄈㄚ
  88. ^ còn viết là “Hữu Hỉ thị”.
  89. ^ “有施氏以妹喜女焉。”[tham 76]
  90. ^ “Hậu Kiệt phạt Mân Sơn, Mân Sơn dâng hai người con gái cho Kiệt, gọi là Uyển, Diễm. Kiệt nhận hai người con gái, không có con, khắc tên của họ vào ngọc Điều Hoa, điều là Uyển, Hoa là Diễm. Mà bỏ quên nguyên phi ở Lạc, gọi là Mạt Hỉ thị. Mạt Hỉ thị và Y Doãn kết giao, rồi do thám Hạ.”[tham 2]
  91. ^ a ă phồn: 「-{有緡氏}-」,giản: 「-{有缗氏}-」,bính âm: Yǒuhūnshì,chú âm: ㄧㄡˇ ㄏㄨㄣ ㄕˋ,âm giống 「友婚式」
  92. ^ hậu duệ của Thiếu Hạo.
  93. ^ còn viết là Quân Đài.
  94. ^ “时日曷丧?予及汝皆亡。”[tham 77]
  95. ^ a ă nay ở bắc bộ tỉnh Hà Nam.
  96. ^ a ă tương truyền nay thuộc huyện Phạm của tỉnh Hà Nam.
  97. ^ a ă tương truyền nay thuộc Hứa Xương, Hà Nam.
  98. ^ gọi chung là “Tam Nghiệt”.[tham 5][tham 79]
  99. ^ có thuyết cho rằng nay thuộc trung bộ Hà Nam, có thuyết cho rằng nay thuộc An Ấp, Vận Thành của Sơn Tây.
  100. ^ 歷山, còn viết là 鬲山, tương truyền nay là Lịch Sơn tại khu Huy Châu, Hoàng Sơn thuộc An Huy.
  101. ^ tương truyền nay thuộc Sào Hồ, tỉnh An Huy.
  102. ^ có thuyết cho rằng nay là di chỉ Thương thành Trịnh Châu tại Hà Nam, có thuyết cho rằng nay là di chỉ Thương thành Yển Sư cũng thuộc Hà Nam.[tham 39]
  103. ^ Phó Tư Niên căn cứ ghi chép trong "Tuân Tử·Nho hiệu thiên đệ bát" là "Quân tử cư Sở nhi Sở, cư Việt nhi Việt, cư Hạ nhi Hạ"[tham 81], đoán rằng hậu duệ Hạ tộc cho đến thời kỳ Chiến Quốc vẫn phần nhiều cư trú tại đất Dự Trung Nguyên.[tham 82]
  104. ^ có thuyết cho rằng Thuần Duy là tên con của Hạ Kiệt, không phải là gọi chung duệ tộc chi phía bắc
  105. ^ phồn: 「-{獯鬻、獯粥}-」,giản: 「-{獯粥、獯鬻}-」,bính âm: Xūnyù,chú âm: ㄒㄩㄣ ㄩˋ,âm giống 「勋欲」
  106. ^ còn viết là Hiểm Doãn, Nghiêm Doãn, Hiểm Duẫn.
  107. ^ không rõ niên đại giữ lăng cụ thể. Bi đình của "Đại Vũ lăng" là do Thiệu Hưng tri phủ Nam Đại Cát mệnh Trương Minh Đạo thuật lại bia văn vào năm Gia Tĩnh thứ 20 (1541) thời Minh, đến năm 1979 thì được xây lại.[tham 89]
  108. ^ khoảng lưu vực Phần Hà trong địa phận Sơn Tây hiện nay.
  109. ^ 《禹贡》一篇讲述大禹治水成功后治理九州的情景,虽然托名为大禹之为事,实则是后人根据夏时期情况结合东周战国时期的情况加工美化的记载。[tham 5][tham 97]
  110. ^ a ă
    冀州:厥賦惟上上錯,厥田惟中中。恒衛旣從,大陸旣作。島夷皮服。
    兗州:厥田惟中下,厥賦貞,作十有三載乃同。厥貢漆絲,厥篚織文。
    青州:厥田惟上下,厥賦中上。厥貢鹽、絺,海物惟錯,岱畎絲、枲、鉛、松、怪石。萊夷作牧,厥篚檿絲。
    徐州:厥田惟上中,厥賦中中。厥貢惟土五色,羽畎夏翟,嶧陽孤桐,泗濱浮磬,淮夷蠙珠暨魚。厥篚玄纖縞。
    揚州:厥田惟下下,厥賦下上,上錯。厥貢惟金三品,瑤、琨、筿簜、齒、革、羽、毛惟木。島夷卉服,厥篚織貝;厥包橘、柚,錫貢。
    荊州:厥田惟下中,厥賦上下。厥貢羽、毛、齒、革,惟金三品,杶、榦、栝、柏,礪、砥、砮、丹惟稇、簵、楛。三邦厎貢厥名,包匭菁茅;厥篚玄纁璣組。九江納錫大龜。
    豫州:厥田惟中上,厥賦錯上中。厥貢漆、枲、絺、紵、厥篚纖纊,錫貢磬錯。
    梁州:厥田惟下上,厥賦下中三錯。厥貢璆、鐵、銀、鏤、砮、磬、熊、羆、狐、貍、織皮。
    雍州:厥田惟上上,厥賦中下。厥貢惟球、琳、瑯玕。織皮:昆侖、析支、渠搜。[tham 98]
  111. ^ có thuyết nói rằng chín châu gọi chung chín vị thủ lĩnh "Cửu Mục" cống lên kim thạch
  112. ^ a ă Nội dung "Mạnh Tử" hiện nay là do người thời Hán chép lại, người thời Hán khi sao chép cổ tịch đem Khải đổi thành Khai để tránh húy kỵ Hán Cảnh Đế Lưu Khải.
  113. ^ "Mặc Tử-Canh trú" ghi: "ngày xưa, Hạ hậu Khai[chú thích 112] sai Phi Liêm đi đổi lấy kim loại tại Sơn Xuyên, làm đồ gốm và đúc tại Côn Ngô,...cửu đỉnh đã hoàn thành, dời đến Tam Quốc.[tham 99]”,viết rằng Khải đúc đỉnh tại Côn Ngô, và sau đó Hạ truyền Ân, Ân truyền Chu.
  114. ^ còn viết là “夏虛”, vào thời thượng cổ, hai chữ “虛” và “墟” có thể thay cho nhau.
  115. ^ a ă “Cao Mật” cũng viết là “Mật Đô”.
  116. ^ còn viết là "Ký châu".
  117. ^ a ă còn viết là "Thương Khâu"
  118. ^ Ngoài ra, còn có "Mục Thiên Tử truyện" chép rằng đến Hạ hậu Khải cư trú tại "Hoàng đài chi khâu", trên gò nhìn "Hoàng đài"[tham 101], hai đất này hiện không thể khảo chứng. Sử Niệm Hải nhận định ứng với lưu vực Cổ Vị Thủy giữa Trịnh Châu và Mật huyện tại Hà Nam[tham 102]. Có thuyết cho rằng là di chỉ Tân Trại ven sông Kịp thuộc thôn Tân Trại, trấn Lưu Trại ở đông nam huyện Tân Mật, Hà Nam.[tham 103]
  119. ^ a ă có thuyết cho rằng Đại Hạ tức là An Ấp.
  120. ^ a ă có thuyết cho rằng Dương Thành tức là Dương Trạch.
  121. ^ a ă có thuyết cho rằng Tấn Dương tức là Bình Dương.
  122. ^ a ă “khi xưa Tam Miêu sống ở phía trái sóng nước Bành Lên, phía phải làn nước Động Đình, phía nam của Văn Sơn, phía bắc của Hành Sơn.[tham 110]”. Vị trí hiện nay của “Động Đình”, “Bành Lệ”, “Văn Sơn”, “Hành Sơn” chưa xác định, có khả năng không lớn là hồ Động Đình, hồ Bà Dương, Văn Sơn, Hành Sơn. Vị trí thực tế do vậy không ra khỏi phạm vi hai tỉnh An Huy và Giang Tô hiện nay.[tham 39]
  123. ^ Căn cứ vào "Trung Quốc lịch sử địa đồ tập" do Đàm Kỳ Tương chủ biên, và có đất Hữu Hỗ, Đồ Sơn, Tam Miêu, Phòng Phong thực tế có khả năng gần hơn vùng đất trung tâm của Hạ hậu thị trong địa phận Hà Nam, xem chi tiết:[chú thích 28][chú thích 17][chú thích 122]
  124. ^ tương truyền nay là khu Nhâm Thành, Tế Ninh, Sơn Đông.
  125. ^ phồn: 「-{六}-」,giản: 「-{六}-」,bính âm: Lù,chú âm: ㄌㄨˋ,âm giống 「陆」
  126. ^ có thuyết nói là thủ lĩnh Hữu Cách thị.
  127. ^ tương truyền nay thuộc đông nam huyện Thanh Phong, Hà Nam.
  128. ^ tương truyền nay thuộc tây nam Củng Nghĩa, Hà Nam.
  129. ^ “夏同姓诸侯斟鄩氏。”[tham 107]
  130. ^ tương truyền nay thuộc đông bắc huyện Kim Hương, Sơn Đông.
  131. ^ phồn: 「-{有莘氏}-」,giản: 「-{有莘氏}-」,bính âm: Yǒushēnshì,chú âm: ㄧㄡˇ ㄕㄣ ㄕˋ,âm giống 「友深式」
  132. ^ địa điểm hiện nay có nhiều thuyết như: huyện Y Xuyên của Hà Nam, khu Tuy Dương của Hà Nam, huyện Nội Hoàng của Hà Nam, huyện Tào của Sơn Đông, huyện Hợp Dương của Thiểm Tây.
  133. ^ cũng ghi là "Cảnh Bạc".
  134. ^ phồn: 「-{彭蠡}-」,giản: 「-{彭蠡}-」,bính âm: Pénglǐ,chú âm: ㄆㄥˊ ㄌㄧˇ,âm giống 「鹏李」,
  135. ^ không xác định được địa điểm hiện nay, trong "Vũ cống" ghi rằng Bành Lễ nằm ở phía bắc Trường Giang, không phải là tên gọi cổ của hồ Bà Dương.
  136. ^ có thuyết cho là họ Yển.
  137. ^ tương truyền nay thuộc Khúc Phụ, Sơn Đông
  138. ^ còn ghi là "Phong Thỉ".
  139. ^ phồn: 「-{契}-」,giản: 「-{契}-」,bính âm: Xiè,chú âm: ㄒㄧㄝˋ,âm giống 「卸」.
  140. ^ “佐禹治水有功。”[tham 114]
  141. ^ tương truyền nay thuộc huyện Ninh Lăng, Hà Nam.[tham 117]
  142. ^ phồn: 「-{嗟}-」,giản: 「-{嗟}-」,bính âm: jiē,chú âm: ㄐㄧㄝ,âm giống 「街」, âm tự dùng để thể hiện sự than vãn vào thời cổ.
  143. ^ phồn: 「-{木鐸}-」,giản: 「-{木铎}-」,bính âm: mùduó,chú âm: ㄇㄨˋ ㄉㄨㄛˊ,âm giống 「目夺」, cái mõ có lưỡi bằng gỗ dùng để tuyên lời dạy, gây chú ý khi tuần hành
  144. ^ a ă â b nguyên văn trong "Thượng thư-Hạ thư" không được truyền thế, chỉ có thể dẫn từ Tả truyện.
  145. ^ a ă còn viết là "Thần phất tập ư phòng"
  146. ^ Mặt Trời không xuất hiện hoàn chỉnh trên trời của phòng ốc, tức nhật thực
  147. ^ phồn: 「-{瞀}-」,giản: 「-{瞀}-」,bính âm: gǔ,chú âm: ㄍㄨˇ,âm giống 「骨」
  148. ^ tức “chiêm quan”, “bốc quan”, danh từ thường thấy trong Hán ngữ thượng cổ, thứ tự từ ngữ đảo ngược khi tính từ đứng sau.
  149. ^ “官占,唯能蔽志,昆命于元龟。”[chú thích 144][tham 125]
  150. ^ 《墨子·耕柱》,“使翁-{難雉}-乙卜于白若之龟。”古无“-{雉}-”字,应为“-{難}-”字的重写讹化,卜官实名“翁-{難}-乙”。[tham 126]
  151. ^ dịch nghĩa “đầu tiên nghe lời nói của ông ta, quan sát chí hướng của ông ta, tiếp đến là trao cho ông ta nhiệm vụ để khảo nghiệm bản lĩnh và hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ của anh ta, cuối cùng cấp cho ông ta xe ngựa, quan phục để định rõ chức vị của ông ta.”
  152. ^
    500 lý điện phục: 100 lý phú nạp tổng, 300 lý nạp trất (liềm), 300 lý nạp kiết phục (áo rơm), 400 lý túc (thóc), 500 lý mễ (gạo).
    500 lý hầu phục: 100 lý thải, 200 lý nam bang, 300 lý chư hầu.
    500 lý tuy phục: 300 lý quỹ văn giáo, 200 lý phấn vũ vệ.
    500 lý yêu phục: 300 lý di, 200 lý thái
    500 lý hoang phục: 300 lý man, 200 lý lưu.[tham 98]
  153. ^ phồn: 「-{采地}-」,giản: 「-{采地}-」,bính âm: Càidì,chú âm: ㄘㄞˋ ㄉㄧˋ,âm giống 「菜地」
  154. ^ a ă chữ số này là số mẫu.
  155. ^ Long Tử thời Chiến Quốc có tả "cống giả, số tuế vi trung dĩ vi thường", thực tế là bắt nguồn từ tình hình những năm Chiến Quốc, không phải là nói về tình hình thời Hạ.[tham 43][tham 5]
  156. ^ "Vũ hình" xuất hiện lần đầu trong "Tả truyện-Chiêu công lục niên", Túc Hướng của Tấn quốc trích dẫn khi phê phán Chú hính thư của Tử Sản nước Trịnh, có lẽ là người thời Chu nhớ đến Đại Vũ mã đặt tên, song do niên đại xa cách, không thể khảo chứng thời Hạ có thật là có Vũ hình không. Học giả thuộc phái nghi cổ phần nhiều nhận định niên đại thành thư của Vũ hình không có khả năng trước thời Tây Chu.[tham 132]
  157. ^ dịch văn: nhân vì vào thời kỳ Hạ xuất hiện hiện tượng nhân dân vi phạm chính lệnh của Hạ hậu, do vậy Hạ hậu chế định ra hình pháp để khắc chế dân chúng.
  158. ^ Triều Phúc Lâm căn cứ theo chữ "thục" trong "thục hình" mà phỏng đoán có khả năng chỉ việc dùng vật phẩm chuộc đền để thay thế hình pháp thân thể, song cũng không loại trừ khả năng "thục mệnh" (tử hình).[tham 5]
  159. ^ bản thân làm điều xấu song lại đi vu cáo hãm hại danh dự của người khác
  160. ^ tham lam vô độ, bại hoại đạo làm quan.
  161. ^ sát hại bừa bãi người vô tội.
  162. ^ phồn: 「-{圜土}-」,giản: 「-{圜土}-」,bính âm: Huántǔ,chú âm: ㄏㄨㄢˊ ㄊㄨˇ,âm giống 「环土」
  163. ^ “夏后芬三十六年作圜土。”[tham 2]
  164. ^ “圜土,狱城也。”[tham 135]
  165. ^ “三王始有狱。”[tham 136]
  166. ^ “六事之人”。
  167. ^ “大战于甘,乃召六卿。”[tham 121]
  168. ^ “天子六军,其将皆命卿也。”[tham 138]
  169. ^ dịch văn: Trong số những người tham gia chiến đấu, nếu sĩ tốt nào ở bên trái chiến xa mà không giỏi dùng cung tên bắn giết kẻ địch, thì họ không có đủ năng lực chấp hành mệnh lệnh; nếu sĩ tốt nào ở bên phải chiến xa mà không giỏi dùng trường mâu đâm chết kẻ địch, thì họ không có đủ năng lực chấp hành mệnh lệnh; binh sĩ điều khiển chiến xa nếu không thành thạo kỹ thuật đánh xe, thì họ không có đủ năng lực chấp hành mệnh lệnh. Người nỗ lực thực hiện mệnh lệnh sẽ được ban thưởng trước thần vị tại tổ miếu, người không nỗ lực thực hiện mệnh lệnh sẽ bị xử tử trước thần vị tại tổ miếu.
  170. ^ số liệu này chi tiết đến hàng đơn vị, song trong văn hiến thời Tiên Tần đều không có ghi chép liên quan đến con số nhân khẩu triều Hạ, hơn nữa số lớn nhất trong bốc từ giá cốt văn Ân Khư phát hiện được là 3 vạn, triều Hạ vốn thiếu những ghi chép về văn tự thì khó có khả năng lớn trong việc tiến hành ghi chép nhân khẩu quy mô lớn như vậy.[tham 143]
  171. ^ xã hội Đại đồng.
  172. ^ “Thiên hạ vi gia” bao hàm hai ý: Người trong Thiên hạ đều lấy gia đình mình làm trung tâm, mỗi người lại có thân thích con cái của mình; quân chủ nhìn nhận vạn vật trong thiên hạ là tài sản tư hữu, như vật trong một nhà, người khác chỉ có quyền sử dụng.
  173. ^ "Mạnh Tử" ghi “(Đại đồng xã hội) đến thời Vũ thì đức suy, không truyền cho người hiền mà truyền cho con[tham 146].”
  174. ^ “thượng xỉ”, người tuổi cao đáng kính
  175. ^ “quý tước”, người được xem trọng có địa vị trong xã hội. "Lễ ký" do người thời Chu soạn, thời Hạ còn chưa có tước vị.
  176. ^ “thi kính”, do tôn kính mà thực thi lế nghi.
  177. ^ “君子之饮酒也,受一爵而色酒如也。二爵而言言斯,礼已。三爵而油油。”[tham 152]
  178. ^ Đỗ Dự thời Tây Tấn chú giải: “hoàng là tên chỉ ngọc đẹp”; Khổng Dĩnh Đạt thời Đường giải thích: "Hạ hậu thị có vận quý, truyền qua các đời, thấy ngọc đẹp mà đặt tên như vậy.”
  179. ^ lông cừu là chính[tham 159]
  180. ^ còn viết là "chu"[tham 165], cũng có nghĩa là thuyền đò.
  181. ^ còn viết là "qua đầm".[tham 165]
  182. ^ còn viết là “毳”、“輴”、“䡅-繁體字.png”, “艹絕-繁體字.png”。[tham 165]
  183. ^ còn viết là khiêu “桥”, cục “梮”, lũy “樏”, luy “蔂”.[tham 165]
  184. ^ còn có “vượt bãi cát dùng cưu 鸠”.[tham 165]
  185. ^ ống sáo bằng xương thuộc di chỉ Giả Hồ, trấn Bắc Vũ Độ, huyện Vũ Dương, Tháp Hà, Hà Nam.
  186. ^ Chu thiên tử ban cho Khang công của Lỗ quốc.
  187. ^ Việc Trung Quốc thời cổ có ngôn ngữ nói thông dụng hay không đến nay vẫn là một vấn đề tranh nghị.
  188. ^ xe bò có tê cổ là "đại xa".[tham 176]
  189. ^ xe ngựa có tên cổ là "tiểu xa".[tham 176]
  190. ^ phồn: 「-{奡}-」,giản: 「-{奡}-」,bính âm: Ào,chú âm: ㄠˋ,âm giống 「傲」, 异体字:““奡”的异体字”。
  191. ^ 熟练操驾舟船,异体字:“荡”。
  192. ^ Ngoài ra, "Cổ văn thượng thư" ghi chép chi tiết về nhật thực xảy ra ngày Canh Tuất mùng 1 tháng 9 năm Quý Tị Trọng Khang thứ 5, học giả căn cứ vào đó mà suy tính thành nhiều giả thuyết như là ngày 22 tháng 10 năm 2137, hay ngày 7 tháng 5 năm 2165[tham 179], tuy nhiên những văn hiến ban đầu như "Hán thư-Luật lịch chí", "Tấn thư-Thiên văn chí" đều không ghi về lần nhật thực này, sau này "Cổ văn thượng thư" bị giới học giả phổ biến nhận định là do người thời Tấn làm giả.[tham 39]
  193. ^ chỉ 5 hành tinh kim, thủy, mộc, hỏa, thổ.
  194. ^ chỉ nhật, nguyệt.
  195. ^ Căn cứ nghiên cứu thiên văn học, lúc gần sáng ngày 23 hoặc 23 tháng 2 năm 1953 TCN, trên đường chân trời phía đông bình nguyên Hoa Bắc, năm hành tinh là Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ xếp thành một hàng, cự ly góc nhìn giữa các hành tinh là dưới 4°, chính là vào sơ kỳ kiến quốc của Hạ hậu thị[tham 16]. Quỹ đạo hành tinh thay đổi nhiều, thời cổ đại không có điều kiện tính toán "ngũ tinh tụ", do vậy không có nhiều khả năng là người thời Tống làm giả dựa theo nghịch suy. Tuy nhiên, dưới góc độ văn hiến học, những lần hành tinh tụ được ghi chép trong lịch sử Trung Quốc đa phần bắt nguồn từ nhu cầu chính trị, thiên văn học hiện đại khó mà công nhận. Những lần "ngũ tinh hội" dựa theo chính trị tương tự có niên hiệu Thái Sơ thời Hán, Thiên Bảo thời Đường, Càn Đức thời Tống, Thái Tổ thời Nguyên, Gia Tĩnh thời Minh..[tham 181]
  196. ^ Từ Lương Cao căn cứ vào đây để nghi vấn rằng nền móng số 1, số 2 của di chỉ Nhị Lý Đầu Yển Sư đều không phải kiến trúc cung điện mà là tông miếu, hoặc có thể nói văn hóa Nhị Lý Đầu (văn hóa Hạ) thực hành thế chế tế-chính hợp nhất.[tham 185]
  197. ^ con của Chuyên Húc[chú thích 13]
  198. ^ a ă Nhậm chức Tung bá. Trúc thư kỷ niên cổ bản không có ghi chép về Cổn. Chiếu theo niên đại thể hệ của Lưu Hâm thời Tây Hán có thể suy ra niên đại Cổn nhậm chức Sùng bá là năm Nghiêu thứ 31 đến 69 (2314 TCNĐinh Hợi—2306 TCNẤt Mùi)[tham 189].
  199. ^ Nhậm chức Hạ bá.
  200. ^ a ă “元年壬子帝即位……八年春会诸侯于会稽……秋八月帝陟于会稽。”[tham 192]
  201. ^ a ă “禹立四十五年。”[tham 192];「《紀年》曰:禹立四十五年。」[tham 193]
  202. ^ tức đế vị. 1992 TCN—1990, ba năm tang kỳ Kỉ Dậu, Canh Tuất, Tân Hợi.
  203. ^ 1981 TCN—1979 TCN, ba năm tang kỳ Canh Thân, Tân Dậu, Nhâm Tuất.
  204. ^ “十六年陟。”[tham 192]
  205. ^ 1962 TCN—1959 TCN, bốn năm tang kỳ Kỉ Mão, Canh Thìn, Tân Tị, Nhâm Ngọ.
  206. ^ “四年陟。”[tham 192]
  207. ^ đệ của Thái Khang.
  208. ^ 1954 TCN—1953 TCN, hai năm tang kỳ Đinh Hợi, Mậu Tý
  209. ^ “七年陟。”[tham 192]
  210. ^ con của Trung Khang.
  211. ^ 1945 TCN—1944 TCN, hai năm tang kỳ Bính Thân, Đinh Dậu.
  212. ^ “二十八年寒浞使其子浇弑帝。”[tham 192]
  213. ^ Hữu Cùng thị.
  214. ^ a ă â chưa chính thức xưng hậu, sau khi Trung Khang mất, con là Tướng chạy sang Nhị Châm, Nghệ một mình đảm đương quyền vị, được 8 năm thì bị Hàn Trác giết. Tuy nhiên "Trúc thư kỉ niên" ghi chép chưa rõ ràng rằng 40 năm của "thời kỳ vô vương" đều do Hàn Trác một mình cai quản, hơn nữa trong sử tịch Nghệ được tôn danh "Hậu Nghệ", thể hiện khả năng xưng qua hậu vị. Có thuyết nói Nghệ tại vị tỏng 8 năm 1915 TCNBính Dần─1908 TCN, Hàn Trác tại vị trong 32 năm 1907 TCNGiáp Tuất─1876 TCN.[tham 195]
  215. ^ “八年寒浞杀羿。”[tham 192]
  216. ^ Hữu Cùng thị (Bá Minh thị. Hàn Trác nguyên là người thuộc Bá Minh thị, sau khi bị đuổi đi thì nhận được sự bảo hộ của Nghệ, được Hữu Cùng thị thu dưỡng.
  217. ^ con của Tướng.
  218. ^ có thuyết cho rằng Thiếu Khang là ông tổ nghề nấu rượu của Trung Quốc, Đỗ Khang.
  219. ^ “二十一年陟。”[tham 192]
  220. ^ con của Thiếu Khang.
  221. ^ 1854 TCN—1853 TCN, hai năm tang kỳ Đinh Mão, Mậu Thìn
  222. ^ “十七年陟。”[tham 192]
  223. ^ 1835 TCN—1834 TCN, hai năm tang kỳ Bính Tuất, Đinh Hợi.
  224. ^ “四十四年陟。”[tham 192];「《紀年》曰:-{后}-芬立四十四年。」[tham 193]
  225. ^ “五十八年陟。”[tham 192];「《紀年》曰:-{后}-芒陟位,五十八年。」[tham 193]
  226. ^ 1731 TCN, một năm tang kỳ Canh Ngọ.
  227. ^ “二十五年陟。”[tham 192]
  228. ^ a ă có thuyết cho rằng danh là Giáng, biệt danh Bất Giáng.
  229. ^ 1705 TCN—1703 TCN, ba năm tang kỳ Bính Thân, Đinh Dậu, Mậu Tuất
  230. ^ “五十九年逊位于弟扁。”[tham 192]
  231. ^ đệ của Bất Giáng.
  232. ^ “十八年陟。”[tham 192]
  233. ^ con của Quýnh.
  234. ^ 1625 TCN—1623 TCN, ba năm tang kỳ Bính Thìn, Đinh Tị, Mậu Ngọ.
  235. ^ “八年天有妖孽……其年陟。”[tham 192]
  236. ^ a ă có thuyết nói Khổng Giáp là biệt danh, có vẻ như Dận Giáp là biệt danh của Cần- đường huynh của Khổng Giáp, song nguyên danh của Khổng Giáp đã thất truyền..
  237. ^ con của Bất Giáng.
  238. ^ 1614 TCN—1613 TCN, hai năm tang kỳ Đinh Mão, Mậu Thìn.
  239. ^ “九年陟。”[tham 192]
  240. ^ 1603 TCN—1602 TCN, hai năm tang kỳ Mậu Dần, Kỉ Mão.
  241. ^ “三年陟。”[tham 192];「《紀年》曰:-{后}-昊立三年。」[tham 193]
  242. ^ 1598 TCN—1597 TCN, hai năm tang kỳ Quý Mùi, Kỉ Mão.
  243. ^ “七年陟泰山震。”[tham 192]
  244. ^ “三十一年商自陑征夏邑……夏师败绩……放之于南巢。”[tham 192]

Thư mục tham khảo

  • 《中國神話傳說》,袁珂 著,里仁書局,ISBN 957-9113-42-4
  • 《中國通史》,戴逸、龔書鐸 著,漢湘文化,ISBN 986-7348-07-9
  • 《中華文明傳真─東方的曙光》,趙春青、秦文生 著,商务印书馆,ISBN 962-07-5314-3

(Nguồn: Wikipedia)