Tông Đản (Chữ Hán: 宗亶; 10461 - ?) hay Tôn Đản2 , có chỗ chép là Nùng Tông Đản (儂宗亶), là tướng lĩnh người dân tộc Nùng, thuộc tướng của Lý Thường Kiệt, người có công lớn cùng Lý Thường Kiệt đánh phá Ung Châu, Khâm, Liêm Châu trên đất nhà Tống, làm ngăn chặn âm mưu thôn tính Đại Việt của Nhà Tống trong cuộc kháng chiến chống Tống (1075-1077).

Thân thế

Nùng Tông Đản sinh năm 1046 tại tổng Kim Pha, châu Quảng Nguyên thuộc đạo Thái Nguyên (nay là Nà Cạn, phường Sông Bằng, thị xã Cao Bằng). Cha ông là Nùng Tồn Thương làm châu mục châu Quảng Nguyên; là người có công giúp nhà Lý bình ổn vùng biên cương Cao Bằng, Lạng Sơn.

Bắc tiến đánh Tống

Năm 1072, vua Lý Thánh Tông chết, con là vua Lý Nhân Tông mới 6 tuổi lên nối ngôi. Nhà Tống cho rằng đó là một cơ hội tốt nên chuẩn bị xâm lược Đại Việt.

Năm 1075, Lý Thường Kiệt, sau khi củng cố lại lực lượng, ông cho rằng: "Ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân ra trước để chặn mũi nhọn của giặc".

Lý Thường Kiệt liền tổ chức một cuộc tập kích vào đất Tống nhằm phá tan các căn cứ Ung Châu, Khâm Châu, Liêm Châu của Nhà Tống.

Năm 1075, Lý Thường Kiệt đã huy động hơn 10 vạn quân thủy bộ và cử Tông Đản làm phó tướng chỉ huy phần bộ binh.

Ngày 27 tháng 10 năm 1075 chiến dịch tập kích quân địch của Lý Thường Kiệt bắt đầu.

Ngày 30 tháng 12 năm 1075 quân Đại Việt tiến đánh Khâm Châu.

Ngày 2 tháng 1 năm 1076, quân Đại Việt đánh chiếm Liêm Châu.

Ngày 18 tháng 1 năm 1076, Tông Đản kéo quân đến ngoại thành Ung Châu. Ngay sau đó, đại quân Lý Thường Kiệt cũng đến nơi.

Ngày 1 tháng 3 năm 1076, quân Đại Việt hạ thành Ung Châu.

Cuộc chiến kết thúc sau 42 ngày.

Sau thắng lợi này vua Lý phong Lý Thường Kiệt làm Điện tiền nguyên suý Phục quốc Thái uý và phong cho Nùng Tông Đản chức Lang Trung tướng quân, triệu về kinh thành Thăng Long làm Đô quân thống lĩnh ngự tiền sử.

Theo Tống?

Theo một số nguồn tài liệu thì Tông Đản từng theo hàng và dâng đất cho nhà Tống. Tuy vậy, do sử sách chép không rõ ràng nên các nguồn tài liệu đều nêu việc này khá dè dặt.

Hoàng Xuân Hãn trong sách Lý Thường Kiệt viết:

Sử sách Tống viết Nùng Tông Đán là người Nùng khá hiệt liệt, đã từng vào cướp đất Tống, sau theo Tống làm đến trung vũ tướng quân ở Ung Châu. Y từng bỏ Tống rồi theo Tống nhiều lần. Sử ta thì có nhắc đến Tông Đản lãnh đạo quân khê động theo Lý Thường Kiệt đánh sang Tống (hiện nay còn có phố Tông Đản ở Hà Nội), nhưng rất sơ sài. Hai âm Đản và Đán lại gần như nhau, không biết hai người có phải là một không?
Sách Tống còn nói các con của Tông Đán đều theo Lưu Kỷ, phải chăng Tôn Đản là một trong những người con của Tông Đán?
Thêm nữa, sử Việt như Toàn thư đều viết lãnh đạo quân khê động có Tông Đản, Lưu Kỷ, Hoàng Kim Mãn, Thân Cảnh Phúc (phò mã)... tức là đều đưa Tông Đản lên đầu. Nhưng Tông Đản cuối cùng là ai? sử đều không nói rõ. Theo thiển ý của người chép thì người lãnh đạo quân khê động chính là Lưu Kỷ, nhưng sau này bọn Lưu Kỷ, Hoàng Kim Mãn lại bỏ Lý theo Tống, nên sử gia Việt đời sau đưa Tông Đản lên cho đẹp đoạn sử này chăng?

Nguyễn Vinh Phúc trong sách Phố và đường Hà Nội 3 cũng nêu nghi vấn về việc nhân vật Tông Đản được đặt tên phố ở Hà Nội, dù từng dâng đất mấy động đi theo nhà Tống.

Cho tới nay vẫn chưa có kết luận chắc chắn về việc Tông Đản và Tông Đán (邅 và 膻) là hai người hay chỉ là một người và khả năng ông theo Tống còn là vấn đề nghi ngờ. Chỉ có một điều chắc chắn là: Tông Đản đã theo Lý Thường Kiệt đánh Ung châu thắng lợi năm 1075.

Chú thích

  1. ^ Lang trung tướng quân Nùng Tôn Đản
  2. ^ Viết là "Tôn Đản" do kị húy nhà Nguyễn.
  3. ^ Nhà xuất bản Giao thông vận tải, 2002

Tham khảo

  • James Anderson (2007). The rebel den of Nùng Trí Cao. Univ of Washington Press. ISBN 0295986891. 

Xem thêm

(Nguồn: Wikipedia)